Cuộc thảm sát Tết Mậu Thân Huế - Huế mảnh đất bị nguyền rủa

Cuộc thảm sát Tết Mậu Thân Huế - 
Huế mảnh đất bị nguyền rủa

Nguyễn Văn Lục

    Cũng có khi nào anh trở lại
    Mai đây mốt nọ biết đâu chừng
    Và có một lời anh sẽ nói
    Giữ dùm nhau một chút hồn chung

    (Thơ Vũ Hữu Định)

Huế được coi như một miền đất bị nguyền rủa. Cái miền đất mà ngay như cụ Huỳnh Thúc Kháng khi chọn đặt trụ sở tờ báo Tiếng Dân đã viết cho xử lý thường vụ toàn quyền Pasquier, khâm sứ Frires vào ngày 26-11-1926 như sau:”Chọn Tourane là một thành phố thương mại, không chọn Huế là một trung tâm văn hóa, nơi có nhiều trào lưu tư tưởng và chính kiến dị biệt, chắc  chắn có những chủ trương không phù hợp với chủ trương ôn hòa và mục tiêu  giáo huấn đám đông của Tiếng Dân. Huỳnh Thúc Kháng nhấn mạnh bản chất không ưa những những nơi náo nhiệt và thích làm việc ở những nơi thanh tịnh nên chọn Đà Nẵng. Tiếng Dân sẽ ít bị ảnh hưởng vì những áp lực chính trị đa tạp như ở Huế .”.

Tranh luận riết rồi cụ Huỳnh Thúc Kháng đành phải chấp nhận đặt trụ sở Tiếng Dân ở số 123, đường Đông Ba.

Huế là như thế đó. Cái miền đất vào năm 1936, theo thống kê của French Indochina mới chỉ có 26 ngàn dân trên tổng số trên 23 triệu dân của toàn cõi Đông Dương. Ấy là chưa kể ngót nghét 10 ngàn người có liên hệ huyết thống với triều Nguyễn, có dây mơ rễ mái với hoàng tộc. Trừ 10 ngàn người đó đi, chỉ còn lại 15 ngàn thứ dân.

Và chỉ với dân số ít ỏi 15 ngàn người cũng đủ làm cụ HTK phải lo ngại.

  • Huế với thành quách Đại Nội.

Đại Nội như cái mặt của Huế, phô trương cái bề ngoài của Huế. Nhưng thật ra cái mặt ngoài đó nay chỉ còn phô trương những bức tường đổ nát, những thành quách nay bám đầy rong rêu phủ kín. Nó lộ cho thấy sự u uẩn của cả một thời kỳ vàng son đã không còn nữa. Những vết nhăn lịch sử còn sót lại trên những bức tường cổ thành siêu vẹo mà chưa đổ, thủng lỗ chỗ mà không chui lọt vì nó quá dày.. Nơi đó cũng để lại không thiếu những câu truyện thâm cung bí sử của các triều đại vua chúa Huế. Những con đường chung quanh bờ thành ngập ngụa với những rãnh nước, với những  tàng cây tuổi trăm năm, già hơn tuổi của những con cháu ngoại thuộc của Huế còn sót lại.. Thành quách đó như thể vẫn vẫn trơ xương cùng tuế nguyệt như những xác không hồn.

Vì thế, những con cháu các gia đình danh gia vọng tộc, quyền quý đã âm thầm bỏ Huế mà đi. Như trốn tránh, như thui lủi lẩn trốn thực tế phũ phàng…

  • Huế bên kia cầu Tràng Tiền

Nhưng phía bên kia sông nổi bật lên Tuổi Trẻ và Trí tuệ của Huế với niềm hãnh diện của trí thức Huế. Ở đấy với những kỷ niệm khó quên của một thời kỳ Quốc Học, Đồng Khánh…Người ta nhắc nhở nhau về những chiếc áo dài Đồng Khánh Huế gọn gàng, vắt qua một bên sườn bụng để lộ ra chiếc quần trắng phẳng phiu hằn lên tuổi dậy thì.

Và người ta cũng không thể nào quên 140 con đò ban ngày chở qua sông những tinh hoa và nét đẹp con gái Huế..

Và ban đêm, những còn đó trở thành bến đỗ cho những cuộc tình lỗi hẹn của một thế giới về đêm mà ở đó người ta muốn gì cũng có, nhất là thân xác người phụ nữ bồng bềnh trên sông nước không phải với những cô gái Huế mà những cô gái thuộc Quảng Trị, Quảng Ngãi trôi dạt về đây kiếm sống. Đó là những chợ Tình qua đêm.

Mà lẽ dĩ nhiên Huế không bao giờ muốn nhìn nhận sự thật nhơ bẩn và phũ phàng ấy, mà nhất là gái Huế nghe nói đến thì đã đỏ mặt…

Còn quên một điều là  chưa nhắc tới những chàng trai xứ Huế nay có Viện Đại Học Huế, được đào tạo tại chỗ, không còn phải tha phương cầu thực, tôn tiền, tốn bạc, xa nhà, đi ăn mày chữ nghĩa..

Cái đám trí thức ấy nay mong muốn, ước mơ trở thành những người hùng bằng những cuộc bạo động quậy phá, hô hào, đình công bãi thị, xuống đường, biểu dương lực lượng.

Tôi gọi chung bọn họ là là “ bọn xảy thai”, chữ dùng của nhà văn Lỗ Tấn.

 Hay đúng hơn chữ đầy mỉa mai, khinh miệt của nhà văn Phạm Thị Hoài trong một buổi nói chuyện tại Berlin, năm 2000 bà gọi là: bọn trí thức với “ dương vật buồn thiu”.

Nhận xét đó có quá bất công với con trai Huế không? Con gái Huế còn có chỗ để thương được. Còn bọn con trai Huế, người ta dị nghị đồn thổi: Bọn họ thâm hiểm và mưu mô đủ kiểu không chơi được.

Và cũng từ nơi đây đám trí thức ấy trở thành những ngòi nổ vói những tên tuổi như Nguyễn Đắc Xuân, Hòang Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Cao Huy Thuần và đám bộ xậu trong dịp tết Mậu thân.

Chúng biến Huế trở thành mảnh đất không người. “No man’s land” như một sự trả thù do lòng căm hận.

Hay Chỉ còn lại cái mà tôi gọi là “ Những vườn quên lãng” với những giải khăn sô, những ngôi chùa một thời nay không còn nghe tiếng chuông chùa như chùa hiên Mụ.

Vì thé, Huế im lặng như đã chết và chưa kịp hồi sinh. Nó rơi vào thinh không tinh lặng.

Sau này, tôi trở lại Huế vào đúng những ngày mưa như thể không bao giờ dứt. Mưa đến thối đất.

Và trong đầu chỉ còn một ý tưởng: Khi xa huế, phải ngồi viết lại, phải nhìn lại Mậu Thân Huế.

  • Mậu thân Huế:

Mậu thân Huế bắt đầu bằng tiếng pháo giao thưa và tiếng súng mở đầu của quân đội Bắc Việt. Có tất cả 28 tỉnh thành bị tấn công đồng bộ. 18 tỉnh lỵ yên tĩnh hoặc chỉ bị pháo kích. Riêng các tỉnh như Pleiku, Kom tum, Bình Định, Darlac, Khánh Hòa, Quảng Nam đã bị tấn kích từ đêm 29 tết..

Một ngày sau đó, tức đêm mồng một tết mới đến lượt Huế, Thừa Thiên vào lúc 2 giờ đêm, rạng sáng mồng 2.

Trước đó biện pháp phòng thủ trải dài từ Huế đến  Quảng Trị là con số 50 ngàn binh sĩ đủ loại.. Sư đoàn Dù được lệnh tăng cường Huế.  Sư đoàn Không vận 1 của Hioa Kỳ cũng được báo động.

Thật ra đó chỉ là cái quân số trên giấy tờ. Thực tế không có những con số chẵn như thế. Nội cái con số quân nhân bỏ đơn vị về quê ăn tết của nhiều đơn vị, con số đó đã chiếm 1/3 quân số.

Huế nhiều nơi đã bị bỏ ngỏ.. Địch đã xâm ngập mà ta không biết. Trong khi đố, quân số bộ đội tấn cong Huế là khoảng 5000 người.

Khi vào là 5000 người., nhưng khi rrút lui thì 60% bị thương vong.. Nghĩa là quân đội Bắc Việt chỉ còn 2000 quân tháo chạy ra khỏi  Huế.

Một thất bại về mặt quân sự? Theo Lê Minh, phó bí thư Trị hiên, Huế thú nhận rằng: bộ đội Bắc Việt rơi vào tình trạng đói ăn, quân số hao hụt…

Vậy mà  họ đã cầm cự được suốt gần một tháng trời.

Ai đã tiếp tế cho họ?

Trong khi bộ đội CS tấn công Huế thì ông tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Thừa Thiên Huế là Trung tá Phan Văn Khoa đã không có mặt tại chỗ.. Nhiều người tưởng ông mất tích hoặc đã chết..

Suốt trong thời gian đó, quân đội Bắc Việt tự do thong dong đi lại trong các khu phố không bị bất cứ  một phản ứng quân sự nào cụ thể về phía quân đội ta.

Sáng mồng một tết, chuẩn tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh còn đến dự lễ chào cờ đầu năm ở Phú Văn Lâu. Lúc  đó, lệnh cấm trại mới được ban hành tức khắc… Nhưng lệnh đó có thể là trễ không? Mặc dầu tướng Trưởng đã ngủ lại tại bộ Tư lệnh sư đoàn. Mà không về nhà..

Có thể lúc mà tướng Trưởng ở Phú Văn Lâu thì một số việt cộng đã có mặt khắp thành phố Huế rồi!!!

Điều này phải cắt nghĩa thế nào về vai trò của tướng Trưởng, một vị tướng được coi là nổi danh giỏi của VNCH.. 

Người dân thường chỉ thấy cái bề ngoài là Huế bị bỏ rơi để cho cộng sản tràn ngập ngay từ lúc đầu..

Binh đội cộng sản chỉ mất một đêm đã có thể chiếm toàn bộ các vị trí chiến lược của thành phố Huế.. Và cho mãi đến ngày mồng 5 tết, quân ta mới thực sự bắt đầu phản công lại? 2 giờ sáng mồng 2 tết, cộng sản đã rót hằng trăm  quả cối 82 ly vào bộ Tư lệnh sư đoàn, bộ chỉ huy tiểu khu, Trung tâm huấn luyện Đống Đa và thiết đoàn 7 bộ binh An Cựu.

Cho đến 5 giờ sáng,địch làm chủ khu Đại Nội, cột cờ, chợ Đông Ba, cửa Thượng Tứ, cửa Chánh Tây, cửa An Hòa.. Chiếm đóng khu sân bay Tây Lộc, khu Mang Cá.

Phía cầu Bạch Hổ, trại cảnh sát dã chiến, binh sĩ đồn trú bỏ chạy về phía Linh Mụ.. Chiếm các cơ quan hành chánh tỉnh Thừa Thiên, khu đại học.

Trừ tiểu khu Thừa Thiên, khu MACV, đài phát thanh, ta vẫn làm chủ.
Nói chung, tình hình sáng mồng 2 tết, Huế rất ngiêm trọng.. Các đơn vị quân đội trú đóng của ta bị cô lập, không liên lạc với nhau được.
 

Trung Tá Phan Hữu Chí là sĩ quan đầu tiên hy sinh khi bị B.40 bắn vào thiết vận xa của ông.

Cuộc tấn công tết Mậu thân vì thế đã kéo dài 26 ngày.

Đó là những ngày dài nhất của Huế . Mãi sau 26 ngày đêm mới thanh toán xong toàn bộ địch quân.

Tại Quang Trị, tuyến đầu của miền Nam, bộ đội cộng sản đã không xâm nhập được vào thị xã. Hai phi trường Đông Hà và Ái Tử vẫn nguyên vẹn.

Thanh toán xong địch ngày 6-2. Quy Nhơn cũng vậy.

Tất cả trong vòng chưa đầy tuần lễ, địch đã bị loại và bị truy kích ra khỏi các thành phố

Ở Sài gòn, tại đài phát thanh, các chiến sĩ nhảy dù phản công lúc 5 giờ sáng, ta làm chủ trước 7 giờ sáng.

Tòa đại sứ Hoa kỳ chiếm lại được sau 6 tiếng.

Bộ Tư lẹnh Hải quân, ta vẫn làm chủ từ đầu tới cuối. Dinh độc lập cũng vậy..

Chúng đã thất bại khi vào bằng lối cửa hông đường Nguyễn Du..

Toàn bộ ké hoạch tấn công Bộ Tổng tham mưu nơi cổng số 4, số 5 cũng thất bại..

Tại khu phi trường Tân Sơn Nhất, trung tá Lưu Kim Cương chỉ huy phản công và bị thương vào đùi ngay từ lúc đầu.. Sau này đại tá Lưu Kim Cương, tư lệnh không đoàn 33 đã hy sinh ngày 6-6-1968. Cũng xin nói thêm  về sự đột khích nhầm  tại trường Phước Đức, số 266 đường Khổng Tử..

Phi cơ trục thăng Hoa kỳ được  phái đến xạ kích bắn nhầm vào bộ chỉ huy hành quân của ta và gây tử thương cho 6 vị sĩ quan cao cấp là: Trung tá Nguyễn Văn Luận, trung tá Lê ngọc Trụ, trung tá Đào bá Phước, trung tá Phó Quốc Chụ, thiếu tá Nguyễn ngọc Sinh, thiếu tá Nguyễn Bảo Thùy..

Dư luận xầm sì cho là một vụ thanh toán.. Nhưng đây chỉ lầ một vụ bắn nhầm, bởi vì nơi xảy ra giao tranh chỉ cách bộ chỉ huy hành quân khoảng 150 mét…..

Cho đến 5 giờ 30 sáng, ta vẫn làm chủ phi đạo. 3 giờ sáng, hai đại đội nhảy dù thuộc tiểu đoàn 8 nhảy dù được tăng phái đến phi trường Tân Sơn Nhất để bảo vệ Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ.

Trung tâm  huấn luyện Quang Trung cũng bảo toàn lực lượng vì đã được bộ Tổng tham mưu thông báo kịp thời nên tăng cường thêm tại vọng gác một đại liên.

Khu Trần Quốc Toản thanh toán bọn cộng sản sau một ngày. Khu Ấn Quang ngày 2-2, khu Ngã Ba Hàng Xanh cũng ngày 2-2. Khu An Nhơn, Gò vấp thanh toán xong ngay 6-2. Hạnh Thông Tây 7-2. Khu Bàn Cờ ngày 7-2. Khu Vạn Hạnh ngày 8-2…

  • Huế những ngày tết Mậu thân.

Huế chỉ còn là những ngày mưa. Mưa dầm dề, mưa phũ phàng như cuộc sống của dân Huế suốt từ những ngày giáp tết đã mưa rỉ rả liên thiếp cho đến tận 13-2 mới tạnh.

Chỉ có Huế mới có thứ mưa như thế trong khi miền Nam mưa nắng rạch ròi, mưa rơi ào ào một lúc rồi tạnh.

Thiên nhiên Huế làm khó con người. Cái mưa, cái nắng, cái gió, cái nóng gió Lào, cái đắng ngắt, cái cay xè…

Làm sao mà vô tư được.. 

Cái mưa gió đã tiếp tay cho bộ đội cộng sản. Quân đội ta         thúc thủ vì máy bay do thời tiết xấu không cất cánh được.

Chưa kể 2000 tội phạm được thả ra ngày mồng 4 tết. Bọn này được trang bị súng ống.. Bọn này gây thêm áp lực và được dịp trả thù dân Huế.

Khi tiếng súng đã tạm ngưng, khi quân cộng sản đã bị xua ra khỏi thành phố Huế thì tức thời TT. Nguyễn Văn Thiệu đã tới ủy lạo dân chúng vào ngày 25-2-1968 cùng với phu nhân * * Huế ba tháng sau tết Mậu thân.

Khoảng tháng 6, sau Tết Mậu Thân, tôi ra Huế trên chiếc phi cơ DC4, 4 cánh quạt của Hàng Không Việt Nam. Nhớ lại tháng 6 năm 1963, tôi cũng ra Huế như thế.

Cứ sự việc xảy ra xong đâu đấy thì tôi lại có mặt.

Nắng tháng sáu như đổ lửa. Huế hoang tàn xơ xác. Đường vào thành phố bụi ngầu. Nhà nào cũng có những mất mát.

Những đau thương của Huế không bút nào tả hết. Có một gia đình Huế, trong biến cố đài phát thanh Huế đã mất đi một người con, hai người cháu. Mấy em nhỏ đó, rủ nhau đi coi ở đài phát thanh Huế. Tất cả năm em. Lúc về chỉ còn lại hai. 3 em đã để xác lại.

Đến Tết Mậu Thân, cũng gia đình ấy, họ đã mất đi 3 người con và một người cháu. Một tang thương như thế, nói gì cũng vô ích.

Những nỗi buồn giăng giăng, phủ kín bầu trời Huế. Huế thực sự chưa vực dậy sau cơn đại loạn. Dấu vết chiến tranh còn in rõ. Nhất là trên mặt người dân Huế.

Nhưng cái buồn, cái khốn khổ của Huế, nay không ai làm thơ được nữa.

Những cây chuối ngã gục, những cây cọ bị bắn cháy, những cành cây gẫy, những vườn tược bỏ hoang. Mà vườn tược vốn là góc sân trong của tâm tình Huế.

Đất hấp hối. Tiếng chuông Thiên Mụ đâu rồi? Những xác chết nằm vất vưởng khắp Huế chờ cuộc giải oan có còn đấy nằm nghe kinh? Những khu vườn Huế, cái làm nên chốn nghỉ, chốn riêng của Huế nay trở thànhnhững vườn quên lãng? Người ta vào đó để quên thay vì để nhớ?

Và cũng bởi vì cây không chết như người nên chúng là những nhân chứng sống động nhất.

 Cứ nhìn cây cối ở Huế, cứ hỏi cây cối thì biết Huế ra sao?

Nhưng còn có một nhân chứng sống động hơn nữa là nếu thấy ở nơi nào ở Huế, tự nhiên cỏ mọc xanh um khác thường, tự nhiên hoa lá dại cứ vồm lên xanh ngát.

Nó không cần phải nói như Trịnh Công Sơn, mà nó nói ngược lại, nói trớ trêu: Cỏ cố gắng mọc. Lúa cố gắng nhoi lên khỏi mặt đất khô như Trịnh Công Sơn viết…

Ở chỗ đó có bằng chứng của tội phạm. Hãy đào lên, đôi khi chỉ cần lấy tay cào đất lên, ở đó có xác người nằm chết đủ kiểu.

 Rất tiếc, tôi không có tài hoa như Trịnh Công Sơn để có thể sáng tác một bài ca về xác người nằm chết dưới đám cỏ xanh um.

    Đâu đây đồng vọng cõi xa xưa
    Thổ ngơi thơm phức hồn ma cũ

    (Bình Nguyên Lộc)

Cạnh đó có những căn nhà cháy trơ trụi với vài cái cột cháy nám. Nền đất xạm đen loang lổ những vết cháy nám. Vắng bóng người. Những căn nhà bốc mái hoặc những mái tôn cháy uốn cong như chiếc bánh đa nướng quá lửa.

Chỉ có sông Hương là không biết nói, không là nhân chứng, bởi vì nó không để lại dấu tích gì, bởi vì nó thuộc về thế giới các nhà thơ, nhà văn và đôi khi các nhà chính trị xứ Huế.

Và đó cũng là trường hợp Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn thường viết nhạc. Điều đó hẳn là như thế. Nhưng vào ngày 22/5/1969, sau khi Huế Mậu Thân trên một tuổi, mùi tang thương, nét ưu tư hẳn còn đâu đó. Có thể là lần đầu tiên Trịnh Công Sơn đã viết một bài văn nhan đề: Nghiêng tai nghe lại cuộc đời trên tờ Khởi Hành và nay cũng lại được đăng lại trên Khởi Hành, số 99/100, tháng 5/2006. Trịnh Công Sơn không hề nhắc một tiếng đến tết Mậu Thân Huế. Cũng nói đến cái chết, nhưng là những cái chết ở một nơi nào khác. Hãy đọc ông:

Tiếng khóc gào theo những đoàn xe GMC chở đầy những chiếc hòm sắp thẳng hàng. Tiểu đội kèn thổi lên điệu bi ai. Như vẫn thổi mỗi sớm mai trước căn nhà vĩnh biệt của bệnh viện. Đó là điều đã thấy, đã nghe nhưng không hiểu. Đời người quá nhỏ bé để phải chứa đầy từng ấy đau thương. Nỗi bất an có mặt trong từng ấy bữa ăn, giấc ngủ. Thành phố rồi cũng trở lại với nhịp cũ. Nhưng những cánh tay bằng hữu đã níu lại nhau chật vật hơn. Mỗi cử động nhỏ trong đời sống bây giờ là một cố gắng. Cỏ cố gắng mọc. Lúa cố gắng nhoi lên khỏi đất khô.

Và ông viết tiếp:

Sống bây giờ cũng là chờ đợi nghe ngóng tử thi. Bao lần khuất mặt đó không phải đếm bằng đầu những đốt tay mà bằng tóc người. Bằng tất cả tóc của những đứa con ngồi lại. Đếm không xuể, đếm hụt hơi. Bài ca quá dài, sức người không với tới.

Phần tôi chỉ hỏi ông và đám bạn bè ông: Tết Mậu Thân Huế, ông ở đâu?

Huế chết và không thấy dấu hiệu gì phục sinh. Những nữ sinh Huế với tà áo trắng thêm chiếc khăn tang thì còn đẹp nỗi gì? Những người có tiền của, người buôn bán đã bỏ Huế mà đi không thương tiếc. Quyết định dứt khoát ngoảnh mặt lại với Huế. Không thì ít ra cũng gửi con cái vào Sàigòn.

Miền đất đáng nguyền rủa với những bất hạnh chồng chất. Với lịch sử chĩu nặng vì hận oán và bất hạnh đủ thứ.

Những con đường lớn như Trần Hưng Đạo. Ở đấy, người ta còn nhìn thấy bảng hiệu Mỹ Dung và cạnh đó bảng hiệu Tân Tân. Ai ở Huế lâu năm là khắc biết. Bệnh viện Trung Ương Huế, đường Lê Lợi, Tòa Hành Chánh còn nguyên dấu vết đạn loang lổ. Chung quanh khu vực đại nội cũng vậy. Cửa Ngọ môn hai bên góc sụp hẳn xuống, có thể nhìn thông thống từ bên này qua suốt bên kia. Điện Thái Hoà tương đối còn lành lặn. Khu vực đường Hoàng Hoa Thám/Trương Định, nơi có Ty Ngân Khố, Kho Bạc. Việt Cộng cố thủ ở đó là nơi đã xảy ra những trận giao tranh ác liệt giữa Thủy quân lục chiến Mỹ và Cộng sản. Vết tích chiến tranh đậm nét.

Huế nguyên trạng của dấu tích Mậu Thân.

Vào một sáng chủ nhật, tôi lò mò đi nhà thờ Phủ Cam, điều mà tôi chưa bao giờ làm mỗi lần đến Huế. Tôi chỉ còn nhớ con đường dốc nhỏ dẫn đến ngôi nhà thờ nhỏ như cái lòng bàn tay, cũng là cái nơi mà vài tháng trước đây, có 428 tên người trong đám họ được dẫn đi khoảng hơn 10 cây số, đến một vùng được gọi là khe Đá Mài.

Họ không bao giờ có dịp trở lại. Họ là ai. Tôi không biết?

Cạnh đó, có hai linh mục ngoại quốc như đã nói ở trên đã đền tội. Cùng với 2 linh mục Bửu Đồng và Hoàng Ngọc Bang còn có hai sư huynh dòng La San lo việc dạy học. Họ có nằm trong tiêu chuẩn những người đáng bị giết không? Hỡi ông HPNT? Họ đã làm gì?

Chỉ đến cuối buổi lễ, sau khi vị linh mục khuất vào bên trong. Tiếng đọc kinh đang râm ran, đang đọc kinh: Ở dưới vực sâu.Lạy Chúa tôi, tôi ở dưới vực sâu kêu lên Chúa tôi. Xin Chúa hãy thẩm nhận lời tôi kêu van, hãy lắng nghe tiếng tôi cầu xin, nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được, bởi Chúa tôi hằng có lòng lành cùng vì lời Chúa tôi phán hứa.Giọng đọc kinh tự nó đã là những tiếng kêu gào rồi. Và càng về phần cuối của kinh đó nó biến thành những tiếng rên ư ử, không thoát ra được, như tắc nghẽn trong họng. Nó như tiếng ư ử của những con vật bị cắt tiết đến hồi cuối. Nó lây lan khắp cả nhà thờ từ trên bao lơn cung thánh chạy dài xuống cuối dãy nhà thờ.

Thật là không cầm lòng được khi phải nghe những tiếng rên như thế. Mà đã mấy tháng nay rồi chứ nào phải ít. Nhà thờ trắng xoá khăn tang từ trên xuống dưới. Không có mấy gia đình mà không có người chết.

Ai làm gì được cho họ? Ai xoa dịu được và ai đền bù và ai đã gây ra cái thảm cảnh này?

Cùng lắm chỉ có những giọt nước mắt thầm lặng của dân Huế The silent Tears cho những bà con của họ, anh em của họ, bạn bè của họ.

    Khi ra đi không kịp chào nhau
    Khi ra đi không kịp chúc nhau
    Khi ra đi còn nhiều vướng bận
    Xin gửi tới mùa xuân sắp đến
    gửi lại anh em bè bạn âm thầm xót xa
    gửi lại những người yêu sắp chia lìa
    như đã biết các
    em khóc với em hôm nào
    mùa xuân sẽ đến
    sẽ đi như anh, như gió
    (Tô Đình Sự)

Hoàng Long Hải ghi:“Sau Tết Mậu thân, học trò lục tục đi học trở lại. Nhìn bọn chúng, tôi bỗng mất tinh thần. Lớp nào cũng vậy, hơn một nửa nam sinh mang băng tang đen trên áo còn nữ sinh thì bịt khăn chế ngang đầu. Con gái tuổi 15, 17 quấn khăn tang ngang đầu là một hình ảnh đau đớn não nề. Câu thơ của Xuân Diệu: ‘Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang’ chỉ có thể là cái đẹp trong văn chương, còn trong đời thực, đó là một hình ảnh đau thương xoáy vào tận đáy lòng nhân ái”.

Mậu Thân kèm theo cái mà tờ Time đăng lớn: The massacre of Hue.

Đó cũng là câu tôi muốn hỏi Huế. Với 26 ngày Tại sao chỉ có mình Huế có tết đêm Cộng Sản chiếm đóng. Họ chỉ cần một ngày để chiếm Huế và khi ra đi để lại hơn 5000 thường dân chết. Một con số thường dân tử nạn cao nhất của cuộc chiến này.

Không có sự tiếp tay của Huế, con số có thể là khác. 5 tháng trước ngày tết Mậu Thân, cộng sản đã lập hai danh sách: một danh sách gồm 200 cơ sở chính quyền, ngay cả căn nhà vợ lẽ hay tình nhân của ông cảnh sát trưởng. Danh sách thứ hai gồm tên những người được coi là thành phần phản cách mạng liên hệ đến chính quyền Sàigòn như sĩ quan, công chức, trí thức và những tu sĩ không hợp tác với Cộng Sản. Chỉ trừ những thường dân Pháp vì De Gaulle đã công khai phê phán chính sách chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam.

Phóng viên Don Oberdorfer của tờ Washington Post sau ba lần ra điều tra cũng xác nhận Cộng Sản có sẵn sổ đen, đến từng nhà nạn nhân để bắt đi.

Và theo Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một bài phỏng vấn của Thụy Khuê, đăng lại trên Chuyển Luân. Ông cho rằng có 3 thành phần người bị sát hại: một, những người chết do hành động trừng phạt của quân Giải Phóng dành cho những người thực sự có tội. Hai, những người bị giết oan. Ba, những nạn nhân chết do Mỹ ném bom vào đám đông hoặc quân chính phủ bắn trả đũa khi phản kích.

Sự trừng phạt của quân giải phóng dành cho những người thực sự có tội hiểu ngầm là họ đáng tội chết lắm? Vậy họ là ai? Những sĩ quan quân đội VNCH về nghỉ phép, những công chức, những vị tu hành? Có thế nào nói rõ hơn được không? Theo ông phải định nghĩa: Thế nào là thực sự có tội? Hiểu theo văn mạch thì trừ những người chết vì bom Mỹ và những người bị đạn lạc do quân chính phủ bắn, những người còn lại là những kẻ thực sự có tội, đáng tội chết?

Chiếm Huế xong, họ đi từng nhà truy lùng những thành phần trên.

Thực sự có tội có phải là Stephen Miller (2) trốn nơi nhà một người bạn Việt Nam. Ông đã bị hành quyết ở một thửa ruộng đằng sau một chủng viện của Thiên Chúa Giáo. Thực sự có tội có phải là Bác sĩ Dr. Horst Gunther Krainick, giáo sư y khoa Huế bị bắt làm tù binh cùng với vợ và hai con. Discher và Alterkoster.

 Tất cả 6 người đều bị dẫn về chùa Từ Đàm sau đó bị thảm sát và vùi nông ở một cái hố. Mặc dầu là người Pháp, hai vị tu sĩ thừa sai dòng Bénédictins, một bị giết, một bị chôn sống. Cũng như thế, thực sự có tội có phải là LM Bửu Đồng cũng bị thảm sát, mặc dầu có cảm tình với Cộng Sản. Chỗ khác, 5 sĩ quan VNCH bị bắn tại một sân vận động sau khi bị bắt. Rồi đến lượt ông Phó tỉnh trưởng Hành Chánh Thừa Thiên Trần Đình Phương tại vệ đường số 3, đường Nguyễn Hoàng? Thực sự có tội có phải là gia đình ông giáo sư Trần Điền? Thực sự có tội có phải là gia đình vừa được nhắc ở trên bị mất 3 người con?

Phạm Văn Tường chỉ là một người gác dan cũng bị giết cùng với hai con nhỏ. Bà Nguyễn Thị Lao, bán thuốc lá lẻ cũng bị giết.(3)

Xin đặt lại vấn đề hai linh mục Guy và Urbain bị giết trong trường hợp nào? Tài liệu của D. Gareth Porter: The 1968, Hue Massacrecho rằng, theo Len Ackland, quân giải phóng đã trú đóng vùng Gia Hội trong suốt 26 ngày. Không có dấu hiệu nào cho thấy họ đã làm điều gì đối với hai linh mục trên. Và nguồn tin của Agence Presse cho rằng hai vị linh mục đó đã trốn chạy khỏi tu viện trong ngày 25 tháng 2 để tránh các cuộc bỏ bom của quân đội Hoa Kỳ. Hai ngày trước khi quân giải phóng rời khỏi địa điểm tu viện. Cũng theo nguồn tin của Agence Presse, nơi hai vị linh mục này chết theo bác sĩ Vennema, bác sĩ người Gia Nã Đại cho biết dân làng cho biết nơi đây đã bị dội bom nặng nề bởi không quân Mỹ. Vậy phải chăng họ đã bị chết bởi bom đạn Mỹ?

Theo ông Hoàng Phủ Ngọc Tường thì những người này thuộc thành phần nào? Đáng tội chết hay chết oan. Rồi những người như Lê Minh, tư lệnh chiến trường Huế Mậu Thân:

“Dù bởi lý do nào đi nữa thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi.”

Và rồi kết quả ra sao? Theo ông Hoàng Phủ Ngọc Tường thì đây là một cuốn hồi ký tâm huyết của ông Lê Minh, sau được đăng trên tiếng Sông Hương. Kết quả là ông đã nghỉ hưu, rồi sau đó ngã bịnh mà chết. Rồi tướng Trần Văn Quang có bị phê bình. Chính Ủy Lê Chương của mặt trận Trị Thiên về sau chuyển ngành làm Thứ Trưởng Giáo Dục?

Chẳng có một biện pháp gì cho những người trực tiếp trách nhiệm giết người tập thể ở Mậu Thân Huế.

Riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường khi được Thụy Khuê hỏi về trách nhiệm về vụ thảm sát ở Huế? Ông đã phủi tay trả lời:“Tôi không đủ thẩm quyền để phán xét bất cứ một cá nhân nào”. Như vậy là có biết cũng không nói. Vậy thì may ra còn lại các quý ông có tên sau đây cũng nên công khai hóa những hiểu biết về vụ tàn sát tết Mậu Thân ở Huế một lần cho xong. Chỉ có quý ông tham gia Mặt Trận mới đủ tư cách nói rõ ràng về trách nhiệm vụ thảm sát tết Mậu Thân ở Huế. Các ông không lên tiếng thì ai lên tiếng cho các nạn nhân ở Huế đây? Đó là quý ông Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Đóa, Bảy Khiêm, Nguyễn Trung Chính, Nguyễn Hữu Vân, Hoàng Kim Loan và Hoàng Lanh, Phan Nam, Nguyễn Thiết? Còn ai nữa Lê Văn Hảo, chủ tịch liên minh cùng với cùng với Đào thị Xuân Yến và Hoàng Phương Thảo làm phó? Cũng không quên được quý ông Nguyễn Đắc Xuân, một nhà Huế học. Mong ông để dành một số thì giờ tìm hiểu xem ai trách nhiệm về vụ thảm sát những nạn nhân biết bị thảm sát trong Tết Mậu Thân ở Huế? Chưa hết, còn có Tống Hoàng Nguyên và Nguyễn Đình bảy Khiêm, Hoàng Phủ Ngọc Phan? Các ông có trách nhiệm nặng nề đối với Huế, ít nhất là cái trách nhiệm biết mà che dấu, không nói?

Qui tacet concentit: làm thinh là nhìn nhận, là đồng lõa. Có những lúc trong cuộc đời im lặng trở thành một lỗi và bổn phận nói lên là một điều bắt buộc. Một bắt buộc tinh thần, hay một bắt buộc đạo đức mà không ai được phép miễn trừ.

Trong khi đó Tiểu đoàn 10 chiến tranh chính trị ở Đà Nẵng. Xin nhấn mạnh rằng, mỗi một quân đoàn chỉ có một tiểu đoàn chiến tranh chính trị. Tiểu đoàn 10 do Thiếu tá Nguyễn Cao Đàm chỉ huy. Tất cả nguồn thông tin và tài liệu bá cáo của Tiểu Đoàn 10 này là bá cáo chính thức của chính phủ VNCH và cũng là nguồn cung cấp tin chính thức cho các phóng viên ngoại quốc. Theo báo cáo của Tiểu Đoàn 10 thì khác với lời giải thích của G. Porter, hai linh mục bị bắt buộc cởi bỏ áo chùng thâm và mặc đồ thường dân trước khi bị dẫn giải đến lăng Đồng Khánh? và bị giết ở đó. Nhưng vị linh mục đi nhận diện xác chết thì cho rằng, ông đã nhận ra hai người do quần áo nhả tu của họ.

Cũng vẫn tài liệu của D. Gareth Porter phản bác tất cả những con số mà theo bá cáo của Tiểu đoàn 10 chiến tranh chính trị đưa ra. Chẳng hạn số người bị dẫn đi từ nhà thờ Phủ Cam, rồi chết ở khe Đá Mài, theo tài liệu của Douglas Pike là 428. Nhưng Ngũ Giác Đài chỉ nói có 250. Ở Gia Hội, theo báo cáo của Tiểu đoàn 10, có 22 hố chôn tập thể với 200 xác. Nhưng theo Stewart Harris thì chỉ có từ 66 đến 150 xác, chỗ khác là 19 thay vì 77 theo tiểu đoàn 10. 29 xác tìm thấy ở khu lăng tẩm thay vì 201.

Tôi cũng muốn hỏi về cái chết của Lê Hữu Bôi, chủ tịch sinh viên Sàigòn về quê ăn tết? Ai đã giết anh? Bôi chỉ là một sinh viên quèn, tại sao anh ta đã bị chết thảm như vậy? Còn nhớ, theo nhà báo Viên Linh trên tờ Khởi Hành vào 18/5/1964, sau khi ông Cẩn bị hành quyết, ông chuẩn tướng Nguyễn Chánh Thi đã mời một phái đoàn báo chí ra Huế để cho đồng bào Huế biết rằng người bị xử bắn chính là ông Ngô Đình Cẩnnhư chúng tôi đã thấy tận mắt. Vì thế, một phái đoàn sinh viên cùng với một phái đoàn báo chí đã ra Huế để cho dân chúng Huế biết rõ rằng ông Ngô Đình Cẩn đã bị hành quyết tại Sàigòn vào ngày 9/5 là chuyện có thật. Bôi đã được Vĩnh Kha, chủ tịch sinh viên Huế đón tiếp. Vậy mà nay Bôi đã chết? Vĩnh Kha không chết? Ai trách nhiệm về cái chết này? Và nay thì Vĩnh Kha cũng đã chết ở Đà Nẵng vì mang trọng bệnh.

Hỏi Hoàng Phủ Ngọc Tường xem Lê Hữu Bôi có nằm trong thành phần có tội đáng phải chết không?

Nhớ đến Lê Hữu Bôi đế nhắc nhở chúng ta về những cái chết của Hùynh Phú Sổ, Khái Hưng, Phan Văn Hùm, Hồ Văn Ngà, Trương Tử Anh, Nguyễn Quỳnh và bao nhiêu người khác nữa. Nhớ làm sao cho xuể. Tôi đã thích câu văn này. Xin trích ra. Ngắn và gọn và đủ nghĩa.

Sáng hôm sau, tôi nghe bố nói với mẹ: Việt Minh về. Ngay hôm đó, chúng tôi dọn lên Nam Định. Hôm đó là hôm nào. Hôm đó là năm 1953.(Trích Trần Lam Giang, Thái dịch Lý Đông A).

Tôi cũng muốn hỏi về cái chính quyền tạm thời (provisional authorities) là những ai với một bản danh sách những người họ coi là cruel tyrants and reactionary elements như ông Hoàng Phủ Ngọc Tường đã quy định 3 thành phần. Ai đã có thể cho một danh sách đầy đủ đến như thế (the lists were detailed and extensive)

Và chỉ có Huế mới thù Huế đến như vậy.

Và cuộc bắt giữ và hạ sát đến hoàn hảo như vậy? Đã không để lọt lưới bất cứ người nào mà họ muốn bắt về cái tội crimes against the Vietnamese people.

Mặc dầu, tôi vẫn không tin vào những bản bá cáo của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ qua Tiểu đoàn 10 cũng như những phúc trình của Douglas Pike trong U.S mission in Việt Nam vẫn được coi là chính thức. Cùng lắm, tôi chỉ tin một nửa. Nhưng cũng đã đủ là bằng cớ tội phạm.

Douglas Pike là một thái cực. Và D. Gareth Porter là một thái cực khác. Cứ chặt mỗi bên một nửa, may ra tìm ra sự thật gần đúng.

Nhưng vẫn phải nhìn nhận rằng các hố chôn tập thể là có thật, ý nghĩa nhất. Có thể trong đó có chôn cả những binh đội quân Giải phóng và thường dân chết vì bom đạn Mỹ.  

Để có được mức độ chính xác hơn, tôi đã liên lạc trực tiếp bác sĩ Dương Hồng Huy, người có trách nhiệm đi khảo sát, kiểm kê những xác chết của Tiểu Đoàn 10, chiến tranh chính trị. Tôi đã hỏi anh ấy hai điều: anh cho biết những con số đưa ra là chính xác không? Có gì để kiểm chứng? Về điểm này, anh ấy cho biết rằng không trực tiếp đi đếm xác chết và cũng không phải việc của anh ấy. Chỉ đi ghi nhận rồi làm báo cáo. Phải tin vào những người thừa hành.

 Thứ hai, anh có nhìn và quan sát tận mắt là các xác nạn nhận, có nhiều trường hợp như bị chôn sống, bị trói vào nhau rồi hạ sát không? Bác sĩ Huy xác nhận có thấy xác các nạn nhân bị trói vào nhau. Tôi lại gặng hỏi lần nữa. Xin nói thật, đừng có thói quen nói đùa, nói theo lương tâm là họ có bị trói vào nhau, rồi bị hạ sát không? Trả lời có bị trói.

Vậy là đủ!

Nguyễn Văn Lục


(2): Giải thưởng Stephen H. Miller− Bạn học cùng khoá (1962) với Stephen H. Miller tại đại học Haverford (Philadelphia) đặt giải thưởng tưởng nhớ Miller cho sinh viên Khoa học Chính trị Haverford phát huy tinh thần dấn thân phục vụ xã hội mà Stephen Miller đã nêu gương và thiệt mạng khi công tác phát triển làng quê tại Việt Nam

(3): Trích tóm lược trong Viet Nam, Hístory của Karnow, từ trang 318-326.

Nhận xét

Bài được quan tâm

TRANG THƠ NHẠC VĂN CHƯƠNG ĐIỆN ẢNH TIẾU LÂM 270

TRANG THƠ NHẠC VĂN CHƯƠNG ĐIỆN ẢNH TIẾU LÂM 271

TRANG THƠ NHẠC VĂN CHƯƠNG ĐIỆN ẢNH TIẾU LÂM 272

TRANG THƠ NHẠC VĂN CHƯƠNG ĐIỆN ẢNH TIẾU LÂM 273