Pháp 'đang bên bờ vực nội chiến'

Pháp 'đang bên bờ vực nội chiến'

(Bernhard-Henri Lévy)

Tunku Varadarajan 

Triết gia Bernard-Henri Lévy bày tỏ nỗi thất vọng trước các cuộc bạo loạn của phe cánh tả trên đường phố, nhưng ông vẫn giữ niềm lạc quan rằng lẽ phải sẽ thắng thế trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm tới. 

Paris

Nước Pháp đang bốc cháy, và Bernard-Henri Lévy đang dõi theo với nỗi đau xót khôn cùng.

Kể từ ngày 16 tháng 9, khi các cuộc bạo loạn bùng phát, những thành phố và đường phố nước Pháp đã trở thành sân khấu cho các hành vi phóng hỏa, cướp bóc, phá hoại và bài Do Thái, đi kèm với đó là những cuộc tấn công nhắm vào cảnh sát và lính cứu hỏa. Thế nhưng, trong tháng ngày suy đồi về đạo đức này, không điều gì khiến ông Lévy đau lòng hơn vụ phóng hỏa tòa thị chính ở Limoges – cách đây 250 dặm về phía nam – vào ngày 17 tháng 10.

“Đối với những người Pháp không tin vào thiên đường, vụ hỏa hoạn tại Limoges giống như một phiên bản thế tục của vụ cháy nhà thờ Đức Bà ở Paris,” ông Lévy nói, nhắc lại sự kiện phần lớn công trình nhà thờ mang tính biểu tượng đó bị thiêu rụi cách đây bảy năm. “Khi mái vòm tòa thị chính Limoges chìm trong biển lửa rồi đổ sập xuống, đó không chỉ là một mái nhà sụp đổ. Một phần linh hồn nước Pháp đang cháy rụi ngay trước mắt chúng ta.”

Ông Lévy cho biết, cũng giống như nhà thờ, tòa thị chính (tiếng Pháp gọi là *hôtel de ville*) chính là “ngôi nhà chung, nơi công dân tổ chức hôn lễ, bỏ phiếu và tôn vinh những bậc tiền bối”. “Một trong những ‘nhà thờ’ của nền Cộng hòa đang tan thành tro bụi và khói lửa.” (Một kẻ kích động thuộc phe cực tả đã bị bắt giữ vì bị nghi là thủ phạm phóng hỏa.)

Ông Lévy, 77 tuổi, là tác giả của 50 cuốn sách và là đạo diễn của hàng chục bộ phim tài liệu. Ông được biết đến với tư cách là một triết gia – tại Pháp, thuật ngữ này dùng để chỉ một trí thức có tầm ảnh hưởng trong đời sống công cộng, không nhất thiết phải là một học giả chuyên môn. Độc giả của tờ báo này cũng đã quá quen thuộc với ông qua những bài tường thuật đầy tâm huyết từ các vùng chiến sự như Ukraine, Nigeria, Trung Đông và nhiều nơi khác. Ông từng dự định dành trọn mùa thu này để quảng bá cho cuốn sách mới nhất của mình, “Mémoires provisoires” (tạm dịch: “Hồi ký tạm thời”), vừa được xuất bản tại Pháp tháng trước.

Tuy nhiên, khi đất nước của mình đang đứng bên bờ vực thẳm, tâm trí ông Lévy giờ đây đã hướng về một nơi khác. “Có thể cảm nhận rõ rằng chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của một cuộc nội chiến,” ông Lévy nói. “Điều tồi tệ nhất là hai lực lượng chính trị chủ chốt của đất nước hiện nay lại có lợi ích từ các cuộc bạo loạn—Le Pen muốn giành lấy quyền lực, còn Mélenchon muốn kiểm soát đường phố. Một kiểu ‘thỏa thuận Yalta’ trong nước (Nơi Winston Churchill, Franklin D. Roosevelt, và Joseph Stalin gặp nhau để chia các vùng lãnh thổ và ảnh hưởng sau Thế Chiến thứ II) như vậy chính là cơn ác mộng đối với tất cả những người theo quan điểm ôn hòa, dù là bảo thủ hay tự do.”

Marine Le Pen là lãnh đạo đảng Tập hợp Quốc gia (National Rally), còn Jean-Luc Mélenchon đứng đầu phong trào Nước Pháp Bất khuất (La France Insoumise). Ông Lévy mô tả họ lần lượt thuộc về “cực hữu” và “cực tả” — cách gọi mà hầu hết các phương tiện truyền thông chính thống cũng sử dụng. Tuy nhiên, khác với truyền thông — vốn chỉ dành từ này cho bà Le Pen — ông Lévy gọi cả hai là “những kẻ phát xít”. Trước sự sụp đổ của chính trường trung dung tại Pháp, rất có khả năng hai thái cực này sẽ đối đầu với nhau trong cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 5 tới, sau khi các ứng cử viên khác trong một danh sách đông đảo đã bị loại ở vòng bỏ phiếu đầu tiên vào tháng 4.

Ông Lévy vừa là một người theo chủ nghĩa tự do kiên định, vừa là người bảo vệ mạnh mẽ các giá trị Do Thái – Cơ Đốc giáo của phương Tây. Ông nghĩ gì về viễn cảnh một cuộc đối đầu trực tiếp giữa bà Le Pen và ông Mélenchon trong vòng bầu cử cuối cùng? Ông từ chối chấp nhận giả định đó, nói với tôi rằng tôi đã mắc phải “thói quen của các nhà báo Pháp” — những người “hành xử như thể kết quả đã được định đoạt từ trước, như thể đã mặc nhiên thừa nhận từ sáu tháng trước rằng trận chiến cuối cùng sẽ diễn ra giữa hai lực lượng cực đoan, hai hình thái mới của chủ nghĩa phát xít. Chà, tôi thì không tin như vậy.”

Ông Lévy tự nhận mình là một người “lạc quan” về chính trị và đưa ra một “giả thuyết khác”: rằng “người dân Pháp không hề tồi tệ như cách họ bị mô tả”. Ông tin chắc rằng “trong những tháng cuối cùng, một khả năng thứ ba sẽ xuất hiện. Có thể đó là một nhân vật đã tham gia cuộc đua, hoặc cũng có thể là một người mà chẳng ai ngờ tới”. Dù thế nào đi nữa, “nhân vật này sẽ phá vỡ thế bế tắc chết chóc giữa hai phe phát xít đối địch, đồng thời đưa nước Pháp trở lại quỹ đạo bình thường của nền dân chủ”. Cuối cùng, ông khẳng định rằng nếu kịch bản vòng bỏ phiếu quyết định diễn ra giữa Le Pen và Mélenchon, “tôi sẽ không bao giờ ép mình phải chọn một trong hai người đó. Tôi sẽ không bao giờ bỏ phiếu cho bất kỳ ai trong số họ”.

Ông Lévy là người từ lâu đã lên tiếng bảo vệ Israel. Ông nhận định: “Xét riêng từ góc độ Do Thái giáo, Mélenchon là một kẻ bài Do Thái không chút che giấu. Những phát ngôn của ông ta chẳng khác nào những gì người ta vẫn nghe từ Tucker Carlson hay Nick Fuentes ở Mỹ—và ông ta thốt ra những lời đó mà chẳng mảy may cảm thấy xấu hổ”.

Đảng của bà Le Pen — vốn từng tuyên bố đã loại bỏ tư tưởng bài Do Thái trong quá khứ — nay lại đối mặt với vấn đề này khi báo chí đưa tin rằng chủ tịch đảng, Jordan Bardella, từng viết những tin nhắn mang nội dung bài Do Thái khi còn là thiếu niên vào thập niên 2010. Ông Lévy bình luận: “Đáng lẽ Bardella có thể đơn giản thừa nhận đó là sai lầm thời trẻ dại. Nhưng không. Cách ông ta phủ nhận, khăng khăng rằng chuyện đó chưa từng xảy ra, cùng thái độ giận dữ trẻ con nhắm vào tờ báo đã phanh phui quá khứ bài Do Thái của mình… tất cả những điều đó chẳng khác nào một lời thú nhận”.

Ông Lévy dành sự ác cảm như nhau cho cả bà Le Pen và ông Mélenchon. “Họ chính là hai phiên bản—một cánh hữu, một cánh tả—của cùng một kiểu chủ nghĩa dân túy; có thể gọi đó là chủ nghĩa Trump phiên bản cánh hữu và cánh tả, với những khuynh hướng cơ bản hoàn toàn giống nhau”. Những khuynh hướng đó bao gồm: “sự khoan nhượng đối với [Vladimir] Putin, hành động phản bội [Volodymyr] Zelensky, xu hướng co cụm theo chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa biệt lập, cùng thái độ khước từ mọi bước tiến sâu hơn vào châu Âu. Bên cạnh đó là một chính sách kinh tế sẽ đẩy nước Pháp vào nhóm các quốc gia đang tiến tới bờ vực phá sản”. Ông cho rằng đây là một cuộc tử chiến, xem xét “ai trong số họ sẽ giành được cái đặc quyền khủng khiếp là hủy hoại đất nước này”. 

Ông Lévy nhận thấy nước Pháp đang ở giữa một “sự dịch chuyển kiến ​​tạo kép, hướng về cả cánh hữu lẫn cánh tả. Cả hai con đường đều dẫn đến thảm họa cho nước Pháp. Chúng giống như hai gọng kìm mà tôi nhất quyết không để đất nước mình rơi vào”. Ông cho biết điều tương tự cũng đang diễn ra tại Hoa Kỳ: “Các bạn cũng có hai thái cực đang bắt tay nhau: phong trào MAGA và nhóm Dân chủ mới – những người coi chủ nghĩa bài Do Thái (thông qua việc chống chủ nghĩa phục quốc Do Thái) là tôn chỉ hàng đầu trong chính trị của họ. Bạn thừa hiểu rằng cuộc đối đầu này sẽ là dấu chấm hết cho nền dân chủ Mỹ. Và tình hình ở Pháp cũng y hệt như vậy”.

Ông nói thêm, mối đe dọa này “không còn đơn thuần là nguy hiểm chính trị nữa, mà là một mối đe dọa siêu chính trị – đó là sự hủy hoại chính sợi dây liên kết xã hội”. Điều này kéo theo “sự giận dữ và cuồng nộ, không còn hy vọng, chẳng còn tầm nhìn tương lai, với mục tiêu duy nhất là đập tan khế ước xã hội”. Để ngăn chặn điều đó, ông cho rằng chúng ta phải “ngăn chặn từ xa những kẻ phóng hỏa ở cả hai phía – những kẻ đang đốt cháy tâm hồn con người, những kẻ gieo rắc ngọn lửa độc hại vào tư duy”.

Liệu Emmanuel Macron, người giữ cương vị tổng thống từ năm 2017, có phải chịu một phần trách nhiệm khi để đất nước rơi vào tình cảnh này? Ông Lévy phản bác. Ông cho rằng việc cả cánh hữu lẫn cánh tả mô tả ông Macron như một “nhân vật quỷ quyệt” là “vô cùng bất công”. Dù ông Lévy từng chỉ trích gay gắt ông Macron vì “quyết định đơn phương công nhận nhà nước Palestine – hành động chẳng khác nào trao chiến thắng chính trị cho Hamas và tưởng thưởng cho những hình thức khủng bố tồi tệ nhất” – thì vẫn có “ít nhất một lĩnh vực mà ông Macron đã thể hiện hoàn hảo: đó là sự ủng hộ dành cho Ukraine. Ngay cả lúc này, khi Hoa Kỳ dường như đang nghiêng về phía Nga, thì thật may mắn là vẫn còn đó ông Macron, người duy trì sợi dây liên kết giữa Ukraine với ngôi nhà châu Âu của mình. Ít nhất vì điều này, ông ấy xứng đáng được tán dương”. Cuộc trò chuyện của chúng tôi diễn ra đúng vào ngày Steve Witkoff, đặc phái viên của ông Trump, gọi Putin là “một người nhân đạo”. “Điều đó thực sự đáng ghê tởm,” ông Lévy nói, “đó là sự xúc phạm đến những người Ukraine đã thiệt mạng, xúc phạm đến các giá trị cốt lõi của nước Mỹ, và xúc phạm đến tất cả những đảng viên Cộng hòa tử tế—những người đã dành cả cuộc đời mình để đấu tranh, trước hết là chống lại Liên Xô, sau đó là chống lại phiên bản thời Putin của nó, và rộng hơn là chống lại mọi hình thức độc tài.”

Ban đầu, ông Lévy không hề có thái độ thù địch với các cuộc biểu tình tại Pháp. “Phong trào sinh viên, xét về khởi điểm, rõ ràng là đáng cảm thông,” ông nói. “Những yêu cầu của họ—cần thêm giáo viên, cải thiện điều kiện tại các trường trung học—hoàn toàn xứng đáng nhận được sự ủng hộ. Thế nhưng, toàn bộ phong trào này đã bị phe cực tả của Mélenchon thao túng hoàn toàn.” Ông Mélenchon đã “liều lĩnh đến mức kêu gọi bạo lực, hợp thức hóa nó, đồng thời buông lời nguyền rủa chính trị nhắm vào lực lượng cảnh sát của nền cộng hòa.” Ông Mélenchon “giờ đây trở thành người hỗ trợ đắc lực nhất cho chiến dịch tranh cử của Le Pen… Chính Mélenchon, và tất nhiên là cả những kẻ gây bạo loạn, đang làm thay mọi việc cho bà ta.”

Đừng tưởng rằng tình trạng này chỉ gói gọn trong biên giới nước Pháp: “Đất nước tôi dường như đang ở tuyến đầu của một hiện tượng đang lan rộng khắp châu Âu, và có lẽ là trên toàn phương Tây: sự bùng nổ của chủ nghĩa hư vô.” Theo ông, đây là “một phong trào xã hội không nhằm mục đích xây dựng một kiểu xã hội cụ thể nào, mà ngược lại, hướng tới việc xóa bỏ hoàn toàn mọi hình thái xã hội.” Những cuộc biểu tình bạo loạn này “không nhắm vào bất công cụ thể nào, mà nhắm vào chính khái niệm công lý; đó không phải là cuộc nổi dậy chống lại một chính phủ cụ thể, mà là cuộc nổi dậy chống lại chính ý niệm về một xã hội có tổ chức.”

Ông Lévy khẳng định rằng những “cuộc bạo loạn lạnh” này “không có điểm chung nào với sự kiện tháng 5 năm 1968” – thời điểm ông từng tham gia phong trào biểu tình khi còn là một thanh niên. Ông chia sẻ: “Một phần đáng kể trong cuốn sách của tôi dành để nói về các sự kiện năm 1968 và những năm sau đó. Tất nhiên, khi ấy cũng có một bầu không khí nổi dậy, nhưng ẩn chứa trong đó là niềm hy vọng.” Khi sinh viên thời kỳ đó “hướng tầm mắt ra ngoài biên giới nước Pháp, họ không lặp đi lặp lại như những con lừa điệp khúc ‘Gaza, Gaza, Gaza’, mà họ lên tiếng phản đối tất cả các chế độ độc tài đang hoành hành trên khắp thế giới.”

Ông cho biết, vấn đề Việt Nam từng là “một kiểu biểu tượng”, nhưng “không ai bị ám ảnh thái quá bởi nó. Đó chỉ là một trong nhiều vấn đề mà họ quan tâm. Những người biểu tình thời bấy giờ dành sự quan tâm cho các nạn nhân dưới chế độ độc tài Liên Xô cũng nhiều như khi họ quan tâm đến các nạn nhân dưới những chế độ độc tài ở Mỹ Latinh vậy.”

Việc các biểu tượng chống Israel xuất hiện khắp nơi trong các cuộc bạo loạn khiến ông Lévy cảm thấy bàng hoàng. “Những lá cờ Palestine – thật tồi tệ, nhưng đó là sự thật. Cũng giống như ở New York, nơi khẩu hiệu ‘Toàn cầu hóa phong trào Intifada’ đã trở thành mật hiệu cho một thế hệ mới – những người tự xưng là ‘tiến bộ’ – thì lá cờ Palestine cũng đang trở thành biểu tượng nhận diện cho những kẻ bạo loạn thiếu suy nghĩ nhất. Chúng ta đang rơi vào tình cảnh này: một phiên bản đáng buồn, lặp lại những cam kết quốc tế trong quá khứ, và thực chất, đó chính là sự bùng nổ của chủ nghĩa bài Do Thái từ chính phe cánh tả.” Ông cho biết đây là “một hiện tượng mới—xét về quy mô, bản chất, cũng như tính chất hư vô và tuyệt vọng của nó. Và thực tế là, dường như chẳng có chính trị gia nào sẵn sàng đối mặt với vấn đề này.” Nhiều chính trị gia thậm chí còn tán đồng hoặc khơi dậy nó. Ngoài ông Mélenchon, ông Lévy còn liệt kê thị trưởng Zohran Mamdani vào nhóm những người phải chịu trách nhiệm.

“Đối với tôi, việc ông Mamdani ngồi tại Tòa thị chính với tư cách là thị trưởng là một vết nhơ đối với tinh thần của New York,” ông nói. “Điều này thật đáng xấu hổ ở một quốc gia từng được các nhà lập quốc hình dung như một Jerusalem mới, và từng được chính người Do Thái coi là quê hương thứ hai. Sự suy đồi này thật khó mà tưởng tượng nổi.”

Điều khiến ông Lévy chú ý về ông Mamdani trong chiến dịch tranh cử năm ngoái là “chủ nghĩa bài Do Thái không chỉ là một chi tiết phụ trong các bài phát biểu hay chương trình nghị sự của ông ta. Nó là động lực thúc đẩy các lập luận của ông ta—những lập luận thậm chí còn khiến ông ta giành được nhiều ủng hộ hơn.”

Ông Lévy tự hào về cả căn tính Do Thái lẫn căn tính Pháp của mình. Liệu người Do Thái có tương lai tại Pháp không? Có những báo cáo đáng tin cậy cho thấy các cơ sở kinh doanh của người Do Thái đã trở thành mục tiêu đặc biệt trong các cuộc bạo loạn gần đây tại Pháp.

“Đây là một trong những chủ đề chính trong cuốn sách của tôi,” ông trả lời. “Người Do Thái đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên nước Pháp như ngày nay. Nếu có ai phải rời đi, thì đó không phải là người Do Thái, mà chính là những kẻ bài Do Thái. Tôi sẽ bảo vệ quan điểm này và đấu tranh cho nó bằng tất cả sức lực của mình, cho đến hơi thở cuối cùng.”

Ông Varadarajan (tác giả), một cộng tác viên của tờ The Wall Street Journal, hiện là nhà nghiên cứu tại Viện Doanh nghiệp Mỹ (American Enterprise Institute) và Viện Tự do Cổ điển (Classical Liberal Institute) thuộc Trường Luật Đại học New York (NYU).

Tunku Varadarajan - Việt Nam Thời Báo

______________

Nguồn:

https://www.wsj.com/opinion/france-on-the-brink-of-civil-war-ed743a69

Nhận xét

Bài được quan tâm