Đường Máu Về Nhà (Phần 2)
(Xem lại Phần 1)
Suốt những ngày ở trại Xuyên Mộc, cặp mắt của ba thằng bạn tù cứ âm thầm nhìn về phía tôi trong những buổi sinh hoạt, tập họp cả trại.
Chúng không hỏi. Tôi cũng không nói. Nhưng cả ba đều biết tôi đang tính toán điều gì đó. Và quan trọng hơn, chúng tin tôi. Tôi biết điều đó.
Tối thứ Bảy hôm ấy, cả đội được lệnh di chuyển gần một cây số đến sân cờ để họp và sinh hoạt văn nghệ liên đội.
Tôi ngồi giữa đám đông, mắt vẫn nhìn lên sân khấu nhưng đầu óc không ở đó.
Tôi chỉ chờ đồng hồ. Thông thường, khoảng 9 giờ 30 tối thì tan hàng, tất cả trở về lán.
Khi buổi sinh hoạt gần kết thúc, tôi nhìn sang hai thằng bạn.
Chỉ một cái nhìn.
Không nói.
Một cái chớp mắt.
Chúng hiểu.
Tôi đứng dậy, đi theo hướng nhà bếp. Hai thằng lặng lẽ bám phía sau. Nhà bếp cách bờ sông Ray chỉ hơn một trăm mét.
Giờ này trong bếp chẳng còn ai. Bọn anh nuôi thường ngủ sớm để sáng hôm sau còn dậy nấu cơm cho cả đội.
Tôi vòng ra phía sau nhà bếp rồi nằm xuống chờ. Trời tối đen như mực. Tôi nín thở.
Một lúc lâu sau, bỗng có tiếng động rất nhẹ.
Keng… Tiếng soong nồi.
Tôi giật mình. Một bóng người mò ra.
- Tắc đâu?
Nó thì thầm:
- Nó đang mò trong bếp coi có gì ăn mang theo.
Tôi hơi bực:
- Sao giờ này còn chưa ra?
Nó cười khẽ:
- Nó rủ thêm thằng Hưng. Em bà con nó, làm bếp.
Tôi sững lại một giây. Vậy là từ ba thành bốn. Không còn thời gian để tính thêm.
Tôi ra hiệu:
- Đủ rồi. Rút lẹ.
Bốn bóng người cúi thấp, men về phía sông Ray.
⸻
Nước sông chảy rất mạnh.
Ngày thường, khi đi lao động ngang qua đây, chúng tôi phải bám vào hai sợi mây lớn cỡ cổ tay, được cột vào những thân cây cổ thụ hai bên bờ. Nhưng sau khi trại viên đi lao động về hết, bọn cai tù tháo một đầu dây kéo về để đề phòng tù nhân dùng nó vượt trại.
Đêm nay không có dây mây.
Không có dây. Chỉ có dòng nước đen ngòm đang cuồn cuộn trước mặt.
Tôi xuống trước. Nước lạnh buốt. Tôi cố bám vào những gì có thể bám được, vừa bơi vừa dò chân.
Nước chảy xiết đến mức nhiều lần tôi tưởng mình bị cuốn ngược trở lại.
Phía sau, ba thằng bạn cũng đang vật lộn.
Tôi lên được bờ trước. Quay lại. Ba cái đầu đang nhấp nhô giữa dòng.
- Cố lên!
Tôi không dám nói lớn.
Cuối cùng cả ba cũng lên được bờ.
Tôi đưa ngón tay lên miệng:
- Im!
Rồi vừa quay người định chạy thì…
KENG! KENG! KENG!
Tiếng kẻng báo động từ phía trại vang lên.
Bên kia sông, những ánh đuốc bắt đầu chuyển động.
Một tiếng hét vọng ra:
- Có người vượt trại!
Tôi không nói gì. Chỉ quay người:
- Chạy!
Bốn thằng cắm đầu lao vào rừng.
Ngay sau đó…
ĐOÀNG! ĐOÀNG! ĐOÀNG!
Những tràng AK bắn về phía bờ sông.
Đạn xé màn đêm.
Tôi biết chúng đang bắn về phía những cái bóng mà chúng không nhìn thấy.
Trời tối đen như mực.
Chúng đang bắn ma. Nhưng chúng tôi không chờ xem những viên đạn có bắn trúng ma hay không.
Chúng tôi chạy.
⸻
Từ lúc bị phát hiện đến gần năm giờ sáng, chúng tôi đi liên tục.
Bảy tiếng.
Bảy tiếng đồng hồ.
Không dám nói chuyện.
Chỉ nghe tiếng thở dốc và tiếng chân đạp lên lá khô.
Gần năm giờ sáng, cả bốn gần như quỵ xuống.
Tôi vừa ngồi xuống thì từ xa lại vang lên tiếng kẻng.
Keng… keng… keng…
Tiếng kẻng báo thức.
Tù nhân trong trại bắt đầu thức dậy, chuẩn bị tập họp.
Tôi nhìn ba thằng bạn.
Chúng nhìn tôi.
Không cần nói.
Chúng tôi hiểu một điều:
Chúng tôi vẫn còn quanh quẩn gần trại.
Tôi đứng lên.
- Đi tiếp.
Không ai phản đối.
Hôm nay trời lại mưa.
Nhờ vậy chúng tôi dễ luồn trong rừng hơn. Khoảng ba giờ chiều, chúng tôi mới dám dừng lại.
Tôi nhìn từng đứa.
- Chắc cũng khá xa rồi.
Lúc ấy tôi mới hỏi Tắc:
- Sao mày lại rủ thêm thằng Hưng?
Nó cúi xuống.
- Nó là em cô cậu của tao. Bỏ nó lại tội nghiệp.
Tôi hỏi:
- Còn đồ ăn?
- Có.
- Đâu?
Nó ngập ngừng:
- Hai đứa tao gói được ít cơm…
Nó nhìn xuống người mình.
- Nhưng lúc vượt sông… vuột mất hết.
Tôi nhìn lại cả bốn.
Lúc này mới nhận ra chúng tôi trông chẳng khác gì một đội quân tàn tạ.
Hai thằng ở trần.
Tôi chỉ còn chiếc áo may ô rách nhiều chỗ vì bị cây rừng móc.
May mà chiếc quần tây dài màu xanh, quần học sinh gia đình thăm nuôi gửi vào, vẫn còn nguyên.
Thằng còn lại vẫn mặc chiếc áo nilon dầu màu đen bóng do trại phát.
Tôi bật cười khô khốc:
- Đội quân xà lỏn.
Không ai cười.
Chúng tôi lại đi.
⸻
Chiều xuống.
Trong rừng bắt đầu tối. Từ xa thấp thoáng một ánh lửa.
Tôi ra hiệu:
- Nằm xuống.
Ba thằng nằm im.
- Tao bò vào coi.
Tôi bò qua một đoạn rẫy.
Có những hàng mì. Tôi hơi yên tâm. Ít nhất nếu gặp người xấu, chúng tôi vẫn có cái để sống.
Tôi bò tiếp.
Một căn nhà lá buông hiện ra. Qua khe lá, tôi thấy một bà già đang ngồi bên bếp lửa.
Trên chiếc giường kê gần đó có một ông cụ đang nằm nghỉ.
Tôi nằm im quan sát thêm.
Không còn ai khác. Tôi bò ngược ra.
Ba thằng bạn chờ trong bóng tối.
Tôi thì thầm:
- Chỉ có hai ông bà già.
Rồi tôi nói kế hoạch.
Sau đó lại bò vào.
Đến sát căn nhà, tôi khẽ bẻ một nhánh cây mì, ném ra phía trước.
Rột…
Bà già giật mình.
Bà đứng lên, dáo dác nhìn ra ngoài.
Tôi bước vào.
Bà nhìn tôi, lắp bắp:
- Anh… anh trốn trại?
Tôi cúi đầu:
- Thưa bà… con trốn trại hôm qua. Bây giờ đói quá. Xin bà giúp cho chút miếng ăn.
Bà nhìn tôi từ đầu xuống chân.
Tôi nói tiếp:
- Con còn ba người đi cùng.
Ông cụ trên giường lúc ấy cũng thức dậy.
Ông nhìn tôi rồi nói:
- Gọi họ vô luôn đi.
Tôi nhẹ nhàng huýt sáo.
Ba bóng người lập tức xuất hiện.
Hai ông bà chẳng hỏi thêm.
Bà già kéo nồi khoai mì xuống.
Chúng tôi ăn. Ăn như chưa từng được ăn. Nồi khoai mì nhanh chóng sạch bách.
Không còn một củ.
Gần sáng, bà lại luộc thêm một nồi.
- Mang theo mà ăn đường.
Tôi cúi đầu:
- Cám ơn ông bà.
Ông cụ chỉ tay:
- Đi theo hướng này. Ra khỏi rừng rồi tìm đường mà đi.
Tôi không biết tên hai người.
Nhưng suốt đời tôi không quên họ.
Giữa một vùng rừng thiêng nước độc, họ đã mở cửa cho bốn kẻ trốn trại mà không hề biết chúng tôi là ai.
⸻
Chúng tôi tiếp tục đi.
Đến khoảng hai giờ chiều, con đường mòn biến mất.
Trước mặt chỉ còn cây.
Cây. Và cây. Dây leo chằng chịt.
Tôi leo lên một thân cây thật cao.
Nhìn bốn phía. Một màu xanh bạt ngàn kéo dài đến tận chân trời.
Không nhà.
Không khói.
Không đường.
Không một dấu hiệu nào của con người.
Tôi tụt xuống.
Thằng Tắc đang dựa vào một ụ mối ngủ ngon lành.
Tôi nhìn ba người:
- Tao không biết mình có thoát được khỏi khu rừng này để về nhà hay không.
Tôi ngừng lại.
- Nhưng đã đi tới đây rồi thì phải cố.
Đúng lúc ấy, Tắc vung tay trong lúc ngủ.
Bộp!
Một mảng ụ mối vỡ ra.
Tôi nhìn vào. Có cái gì đen đen bên trong.
Tôi bẻ một nhánh cây, khều ra.
Tôi kéo.
Một mảnh áo nilon dầu màu đen hiện ra.
Tôi kéo tiếp. Ụ mối đổ xuống.
Bên dưới… Một bộ xương người.
Ba thằng bạn đứng chết lặng.
Tôi không nói gì.
Bới thêm.
Một chiếc đầu lâu rơi ra. Không cần hỏi cũng hiểu.
Một người bạn tù nào đó đã vượt trại trước chúng tôi.
Anh ta đã đi đến đây. Rồi kiệt sức. Và nằm lại giữa rừng.
Một thằng bật khóc.
Tôi nói:
- Có lẽ nó cũng muốn về nhà như tụi mình.
Tôi nhặt từng mảnh xương, đặt lại ngay ngắn.
Chiếc đầu lâu cũng được đặt trở lại.
Tôi đứng im một lúc.
Rồi thầm đọc những lời cầu nguyện.
Xin Chúa thương xót linh hồn người đã khuất.
Xin đón nhận anh ấy vào Thiên đàng.
Tôi không biết tên anh. Không biết quê quán.
Không biết gia đình anh còn ai chờ đợi.
Nhưng ít nhất…
Trong lúc này, anh không còn nằm một mình nữa.
⸻
Chúng tôi lại đi.
Ngày đi.
Đêm nghỉ.
Hai ngày tiếp theo, chúng tôi gần như sống bằng trái cây rừng.
Thấy loại nào chim ăn dở rơi xuống, chúng tôi mới dám ăn.
Không ai biết cây nào độc.
Không ai biết trái nào có thể giết người.
Đói quá thì phải liều.
Sau gần ba ngày, chúng tôi lại tìm được đường mòn.
Tay chân đứa nào cũng đầy vết xước.
Một người nói:
- Thôi cứ đi theo đường này.
Tôi lắc đầu.
- Không.
- Sao?
- Công sức gần ba ngày mới thoát được. Đi đường mòn, lỡ gặp chốt thì coi như xong.
Tôi nhìn ba thằng:
- Bị bắt lại, chúng nó đánh cho rồi nhốt chuồng cọp. Có khi chết còn nhanh hơn.
Chúng im lặng.
Lại tiếp tục men theo đường mòn nhưng cách xa hàng chục mét.
⸻
Đến trưa, chúng tôi gặp một cái chòi.
Tôi ra hiệu cho cả ba nằm lại.
Một mình tôi bò vào.
Trong chòi có một thanh niên đang nằm ngủ trên chiếc giường bằng cây rừng.
Bên trong có một cái bồ quây bằng cót.
Tôi rướn người nhìn vào. Vài bao tải. Có lẽ là lúa. Nhưng thứ khiến tôi lạnh người lại nằm trên nó.
Một khẩu AK.
Tôi rút lui ngay. Về đến chỗ đồng bọn, tôi nói nhỏ:
- Rút.
Một thằng hỏi:
- Có gì?
- Có súng.
- Súng đâu?
- Trong chòi.
Nó nhìn tôi:
- Sao không lấy?
Tôi lắc đầu.
- Lấy làm gì?
- Có súng thì tự vệ.
Tôi nhìn thẳng vào nó:
- Không. Lấy khẩu súng đó nghĩa là mình tự nạp mạng.
Không ai nói nữa.
Chúng tôi rút thật xa rồi mới dừng lại.
⸻
Ngày hôm sau, chúng tôi gặp một đôi vợ chồng đang gánh đồ vào rẫy.
Tôi nói:
- Tụi mày núp kỹ. Tao ra xin đồ ăn.
Tôi chỉ tay:
- Nếu họ manh động, tụi mày xông ra.
- Còn nếu họ cho?
- Thì thôi.
May mắn vẫn chưa bỏ chúng tôi. Hai người ấy là những người lương thiện. Họ cho chúng tôi một xâu bánh ú.
Còn chỉ đường.
Tôi cầm bánh, chờ họ đi xa rồi mới quay lại.
Chúng tôi ngồi dưới rừng chia nhau ăn.
Tôi nói:
- Sắp tới rừng cao su rồi.
Một thằng hỏi:
- Có dân không?
- Có.
Tôi cởi chiếc quần dài màu xanh. Tôi xé phần dây kéo.
Từ bên trong, tôi lấy ra những tờ tiền đã giấu từ thời còn ở Vĩnh An Cây Gáo.
Tám mươi đồng.
Số tiền của gia đình cho khi thăm nuôi
Tôi chia làm bốn.
Mỗi đứa hai mươi đồng.
Tôi đưa từng phần:
- Cầm lấy.
Một đứa nhìn tiền rồi nhìn tôi.
Tôi nói:
- Tối nay ra tới rừng cao su, nghĩa là chúng ta sẽ gặp đường lộ.
Tôi ngừng một chút.
- Từ đó, mỗi đứa tự lo.
Không ai nói.
Tôi tiếp:
- Sống được tới đây đã là một kỳ tích.
- Phải thật cẩn thận. Đừng để lộ.
- Nếu bị bắt…
Tôi nhìn từng người.
- Nói chỉ trốn một mình.
Một đứa nghẹn giọng:
- Còn mày?
Tôi đáp:
- Tao cũng vậy.
Có những giọt nước mắt rơi xuống.
Riêng tôi không khóc. Có lẽ tôi nhỏ nhất.
Nhỏ cả tuổi lẫn thân hình.
Nhưng trong lòng tôi lúc đó đã có một thứ lớn hơn nỗi sợ.
Cái chết của Bố. Và nỗi căm hận đã đè chết phần yếu mềm trong tôi.
⸻
Khoảng chín giờ tối, chúng tôi ra tới mép đường.
Bốn người chia làm hai nhóm.
Đi cách nhau thật xa. Tôi và một người đi trước.
Một quán nhỏ hiện ra.
Vừa bán tạp hóa, vừa bán cà phê.
Tôi bước vào.
Điều đầu tiên tôi nhìn thấy là bàn thờ Công giáo.
Tôi có thể yên tâm phần nào.
Tôi kéo người bạn ngồi xuống.
- Cho hai ly cà phê đen.
Đã quá lâu rồi. Quá lâu rồi tôi mới lại ngửi thấy mùi cà phê.
Bà chủ mang cà phê ra.
Tôi bắt chuyện….
Rồi nói thật:
- Thưa bà, tụi con trốn trại ra được năm ngày rồi. Đói quá.
Bà nhìn hai chúng tôi.
Không hỏi nhiều.
Một lúc sau, bà mang ra một rổ khoai mì luộc.
- Ăn đi.
Tôi gần như muốn khóc.
Tôi nói với người bạn:
- Ra gọi hai thằng kia vô.
Một lát sau cả bốn cùng ngồi bên rổ khoai mì.
Ly cà phê đen trước mặt.
Tôi nhấp một ngụm.
Trong khoảnh khắc ấy…
Tôi có cảm giác mình đang ở thiên đường.
Không phải vì cà phê ngon.
Mà vì đã quá lâu rồi tôi mới được sống như một con người.
Bà chủ bỗng nói:
- Mấy chú may lắm.
Tôi hỏi:
- Sao vậy bà?
- Chỉ vài phút trước khi mấy chú vô, có một toán du kích ngồi ở đây.
Tôi khựng lại.
Bà nói tiếp:
- Họ vừa đi khỏi.
Tôi nhìn ba người bạn.
Không ai nói.
Chỉ cần sớm vài phút…
Có lẽ câu chuyện đã kết thúc ở quán cà phê nhỏ ấy.
⸻
Ăn xong, chúng tôi lại tản vào rừng cao su.
Hai nhóm.
Đêm đó tôi dặn người đi cùng:
- Sáng nghe tiếng xe thì dậy. Tìm cách đu xe ra bến Long Điền.
Tôi chỉ chợp mắt được một chút.
Khoảng ba giờ sáng…
Tôi nghe tiếng xe từ xa.
Pành… pành… pành…
Xe lam.
Tôi bò ra mé đường.
Chiếc xe lam cũ kỹ, phía trước treo một chiếc đèn bão.
Phía sau chất đầy những giỏ rau.
Tôi nằm im chờ nó chạy qua.
Rồi…
Tôi đu bám vào bửng phía sau.
Chiếc xe cứ thế chạy. Tài xế không biết.
Tôi không biết ba người kia đang ở đâu.
Chỉ biết từ giây phút này, mỗi người phải tự tìm đường sống.
Hơn một tiếng sau, xe dừng ở mấy vựa rau để xuống hàng.
Trời vẫn chưa sáng hẳn.
Tôi đi bộ hơn một cây số.
Cuối cùng nhìn thấy bến xe.
Nhưng tôi không bước vào.
Tôi biết nơi đó có thể là chỗ dữ nhiều hơn lành.
Tôi đi vòng ra mấy cánh ruộng.
Tìm nhà dân.
Tìm người.
Tìm một cơ hội.
Tôi mua vài cái bánh rồi chui vào một bụi tre nằm nghỉ.
May mắn, gần đó có một ông già đang chăn mấy con bò.
Tôi nằm nhìn ông.
Ông chẳng biết tôi là ai. Nhưng chỉ cần nhìn thấy một người bình thường giữa những ngày chạy trốn ấy cũng đủ khiến tôi cảm thấy mình chưa hoàn toàn bị thế giới bỏ quên.
⸻
Tối xuống.
Tôi mò ra bến xe.
Tôi hỏi thăm.
Chỉ có chuyến xe về Bà Rịa.
Nhưng vé xe chỉ bán cho người có giấy phép đi đường!
Tôi hiểu.
Tôi chờ chuyến cuối.
Chờ đêm xuống.
Chờ tài xế có thể làm lơ.
Cuối cùng tôi cũng lên được xe.
Và đêm ấy…
Tôi đặt chân xuống bến xe Bà Rịa.
Tôi đã vượt qua các vùng Bình Châu, Đất Đỏ, Phước Thạnh, Long Đất.
Một chặng đường rừng dài hơn hai trăm cây số.
Năm ngày.
Năm ngày sống bằng khoai mì, bánh ú, trái cây rừng và ý chí.
Khủng khiếp.
Nhưng tôi còn sống.
Ở Bà Rịa, tôi gặp lại người bạn đã đi cùng tôi.
Cho đến tận hôm nay, tôi vẫn không nhớ tên nó là gì. Còn hai người Hoa kia…
Từ đó tôi không bao giờ gặp lại nữa.
Không biết họ đã đi đâu.
Không biết họ có về được nhà hay không.
Không biết họ còn sống hay đã nằm lại ở một nơi nào đó.
⸻
Tôi ở lại bến xe Bà Rịa thêm một tuần. Không phải vì muốn. Mà vì những chuyện bất ngờ liên tiếp xảy ra.
Trong túi chỉ còn hai đồng.
Hai đồng. Không đủ để về Sài Gòn. Tôi trở thành một kẻ ăn xin bất đắc dĩ.
Ban ngày quanh chợ Bà Rịa.
Chiều lại lang thang bên ngoài bến xe.
Hỏi ai thuê gì làm nấy.
Miễn có được vài đồng.
Chỉ để tiếp tục đi.
Chỉ để được về nhà.
Bởi sau lưng tôi không chỉ có một căn nhà.
Mà còn có một người Mẹ đang chờ. Đang mong.
Và một người Bố đã chết mà tôi chưa kịp giữ lấy phần mộ của ông.
Tôi đã vượt qua trại.
Vượt qua sông.
Vượt qua đạn AK.
Vượt qua rừng già.
Vượt qua đói khát.
Nhưng lúc ấy tôi mới biết…

Nhận xét
Đăng nhận xét