Lá thư gửi các người bạn Âu Châu
Lá thư gửi các người bạn Âu Châu
Lá thư gửi các người bạn Âu Châu. Phải chăng đây là nỗi đau và nỗi nhục của một số thành phần giới trí thức miền Nam bị hài tên tuổi?
(Lá thư gửi những người bạn Âu Châu là một phần trích dẫn trong cuốn sách của Alain Ruscio: Vivre au Viet Nam, từ trang 229 đến 236. Nó ngắn, nhưng bộc lộ tất cả con người,lập trường thiên tả của tác giả trong bối cảnh cuộc chiến ở Viet Nam. Mời bạn đọc theo dõi bản dịch sơ lược và phần bình luận của người viết bài này.)
Nguyễn Văn Lục
Lá thư được viết và gửi đi vào ngày 28 tháng 6 1979 tính đến nay đã gần nửa thế kỷ nay số người còn sống có thể đếm trên đầu ngón tay.
Theo cá nhân tôi, nhiều phần nội dung lá thư là do chính tay những người cộng sản viết và dàn dựng, bịa đặt hoặc bao che với những luận điệu biện hộ dối trá, che đậy sự thật. Nhất là loại biện hộ một cách “Ngu dại ngây thơ” về hoàn cảnh khốn cùng của những người bị đi học tập cải tạo.
Nó không che dấu được ai về sự thật phũ phàng, tàn độc và dã tâm của những kẻ thắng cuộc giết người một cách mòn mỏi đến thân tàn ma dại..Nó là độc ác trên cả sự độc ác mà bản thân người viết bài này thấy không cần thiết phải viết lại nữa.
Nay tôi nhắc lại như một hồi ức cho những người trẻ thuộc thế hệ tương lai.- những người không có cơ hội dự phần-.
Mục đích lá thư xem ra không muốn gửi cho những người tham dự vào cuộc chiến tranh kể từ 1945 đến 1975 của những người thua cuộc mà vốn họ chưa tiêu hóa nổi sự thất bại ê chề.
Mục đích chính là gửi đến những người đã có sẵn cảm tình, sẵn sàng chia xẻ, đồng tình ủng hộ cho những nỗ lực chiến đấu lâu dài và bền bỉ cho cuộc tranh đấu dành độc lập và thống nhất. Đồng thời không quên dành phân nửa lá thư phê phán Bắc Kinh trong việc xâm chiếm 6 tỉnh phía Bắc vào năm 1979 và lên án Kampuchia với giọng điệu mạnh mẽ, dứt khoát việc chèn ép, quấy rối và xen vào nội bộ Việt Nam.
Trước hết, xin chỉ viết lại những gì người cộng sản không muốn nhắc tới…
- Theo họ, trong suốt 30 năm cuộc chiến tranh liên tục: người dân Việt chỉ muốn làm chủ đất nước mình, hàn gắn những vết thương, tái thiết những đổ nát và xây dựng một nước Việt Nam mới mà họ đã chọn lựa từ năm 1945: Đó là Con đường xã hội chủ nghĩa.
Sự chọn lựa này có thể không làm vừa lòng mọi người. Nhưng chúng tôi không muốn nhằm một chủ nghĩa bá quyền, một tham vọng lãnh thổ hoặc một đối đầu với các nước láng giềng ở Đông Nam Á. Chúng tôi có dủ những vấn đề phải giải quyết nên không muốn thêm rắc rối. Chúng tôi chỉ muốn hòa bình.
Nếu có những rắc rối xảy ra trong vùng thì không nên tìm những nguyên nhân từ Hà Nội mà từ Bắc Kinh. Bởi vì từ rất lâu, tham vọng bành trướng của nước Trung hoa vẫn không thay đổi và Việt Nam vẫn luôn luôn là rào cản vững chắc nhất ngăn cản sự bành trướng này.
Đúng như Néhru phát biểu năm 1960: “Mỗi khi nước Tàu trở thành nước Tàu, họ trở thành thứ đế quốc.”
Vì thế nước Tàu không bao giờ mong muốn một nước Việt Nam độc lập, và họ coi như Việt Nam là một vùng ảnh hưởng của họ, tìm cách làm suy yếu và chịu sự khuất phục. Bằng mọi cách, họ đã thúc đẩy sự quá khích của Kampuchia, gây rối và gây ra cuộc chiến tranh biên giới với Kampuchia.Và cuối cùng, họ đã xâm chiếm 6 tỉnh phía Bắc vào tháng giêng, năm 1979 và tố cáo chúng tôi như những kẻ gây rối cho hòa bình trong vùng..
Chúng tôi đã giải phóng Saigòn và chỉ mong mỏi một sự đau đớn tổi thiểu không tránh khỏi cũng như một sự rộng lượng cho con người..
Con đường xã hội chủ nghĩa là con đường cách mạng, nhưng không có con đường cách mạng nào mà không có bạo lực. Nhưng con đường cách mạng đích thực chỉ nhằm xóa bỏ cơ cấu áp bức, bất công mà không chống lại con người.
Vì thế, chúng tôi đã tham dự và tiến hành lật đổ chế độ cũ của Sài gòn để tiến tới một xã hội mới.
Nhưng chắc chắn rằng, trong những biến cố lớn như thế không tránh khỏi những quá độ, với một đau đớn tối thiểu với một sự rộng lượng lớn, bao la cho con người và chúng tôi đã kịp thời sửa chữa sự quá độ, sự sai lầm có thể cho một số nạn nhân. Nhưng luôn luôn có sự chỉnh đốn cần thiết có thể.
Nhưng chúng tôi có thể bảo đảm chắc chắn rằng không hề có các cuộc tắm máu, không hề có bạo hành tôn giáo, không hề có tẩy não, không hề có khủng bố ý thức hệ như những tin đồn đã lan ra.
Tất cả những dư luận sai lạc ấy vẫn được phổ biến chỉ có mục đích chống lại chủ nghĩa cộng sản.
Chúng tôi không muốn tranh luận về quyền con người trong mỗi một xã hội. Lịch sử xã hội chủ nghĩa cho thấy biết bao nhiêu tai họa trong 30 năm chiến tranh và trăm ngàn khó khăn của chế độ cũ để lại với sự áp bức đè nén, sự lợi dụng của chế độ cũ.
30 năm bị chế độ cũ áp bức, đề nén, lợi dụng khai thác. Nay đã đến lúc người dân có quyền được sống trọn vẹn quyền con người. Điều đó đòi hỏi nhiều nỗ lực về vật chất cũng như tinh thần không dễ gì thực hiện trong một sớm một chiều.
Nhưng đó là những dự định, những kế hoạch tương lai mà chúng tôi quyết tâm mong muốn thực hiện.
Tất cả những người Việt Nam, bất kể quá khứ ra sao của họ, họ được mời gọi đóng góp tham dự vào sự xây dựng và phát triển đất nước.
Tuy nhiên, muốn tham gia vào cuộc cách mạng ấy đòi hỏi nhưng người của chế độ cũ phải thay đổi tận căn bản cách nhìn về cuộc sống xã hội mới. Và để có sự thay đổi ấy, các viên chức, sĩ quan chế độ cũ đã được đưa đi vào trong các trại tập trung để họ được tiếp thu và thay đổi.
Đối với các trại cải tạo, không có sự cải tạo cưỡng bức. Họ được đọc báo, nghe radio, chơi thể thao, nhận được các gói quà và nay có một số lớn người cải tạo đã được ra về.
Tuy nhiên, đối với một số cải tạo viên và gia đình họ vẫn là một thử thách lớn lao. Tuy nhiên , sự tham gia vào xã hội mới đòi phải trả một cái giá đó.
Trong việc cải tạo, luôn luôn có những thành phần không thể thich ứng vào chế độ mới hoặc chối từ vào việc thích ứng hội nhập.
Ở miền Nam, Việt Nam, một thế kỷ thời thuộc địa, 20 năm với hệ thống tân thuộc địa, 10 năm sự có mặt đông đảo sự tham chiến của người Mỹ, một bộ máy tuyên truyền lớn lao chống lại chủ nghĩa cộng sản luôn luôn có mặt và từ đó điều kiện hóa tâm lý con người. (Đó là Sự phồn vinh giả tạo, một bộ máy của một xã hội tiêu thụ…vv.) Tất cả những yếu tố ấy tạo ra góp phần một cách khách quan hay chủ quan không thể thích ứng với xã hội chủ nghĩa.
Cộng thêm vào đó, bầu khí nhiễm độc do những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ trong những ngày hấp hối của chế độ sài gòn tạo ra sự hoảng sợ của sự thất bại, và kế hoạch di tản hơn một triệu người di tản.
Cộng thêm những người lãnh đạo Bắc Kinh đã tạo ra một cuộc di tản những thường dân Trung hoa với lời cáo buộc“khủng bố và xua đuổi người Trung Hoa”. Thêm vào đó, Bắc Kinh cắt đứt mọi khoản viện trợ kinh tế và công khai thái độ chống đối Việt nam vào ngày thứ hai 23 tháng 4, 1979. Đặng Tiểu Bình là người đẫ tuyên bố: dạy cho Việt Nam một bài học. Ông cũng đã gửi những cố vấn sang Kampuchia để giúp Pol Pot
Trong cuốn sách Livre noir .Đó Là một chuỗi những lòi thóa mạ, nguyền rủa, kỳ thị chủng tộc. Đài Radio Phnom Penh phát thanh ngày 10 tháng 5, 1978 một bản tin như sau: “ Đảng đã quyết định là tiêu diệt càng nhiều càng tốt kẻ thù và giữ gìn lực lượng của chúng ta. Chúng ta yếu kém về số lượng trong khi phải đối đầu với một địch thủ mạnh như Việt Nam. Và theo nguyên tắc dựa trên con số, mỗi người Kampuchia phải giết được 30 người Việt Nam, có nghĩa là mỗi khi chúng ta thiệt mạng một người thì Viêt Nam phải trả giá bằng 30 người.”
Điều đó cắt nghĩa được việc hàng triệu người Việt và Hoa đã tìm đủ cách trốn khỏi VN. Cái mà người ta gọi là đi “ bán chính thức”.
Và thảm kịch những người này trốn ra khỏi VN một cách bất hợp pháp bằng đường biển với biết bao nhiêu nỗi hiểm nguy đến sinh mạng đang chờ đợi họ.
Chúng tôi hiểu được phản ứng của một số nước láng giềng phải chịu nhiều khó khăn, nhất là số phận những người Hoa.
Và họ đã đổ trách nhiệm một cách bất công cho là trách nhiệm của chính quyền mới.
Chúng tôi cũng không thể lý giải về số phận những người vượt biên và thảm kịch những người vượt biển một cách bất hợp pháp.
Nhưng chúng tôi cũng cảm thấy quá ê chề về những nước mắt cá sấu của những kẻ giả hình hay của một số các lãnh đạo thế giới đã lên án, phê phán vốn chẳng giúp gì cho những kẻ vượt biên.
Chúng tôi tin tưởng và may mắn thay vào thỏa ước 7 điểm được ký kết giữa chính phủ Việt Nam và Liên Hiệp Quốc tạo ra cơ hội hợp lý giúp giải quyết vấn đề tế nhị này và tạo ra cơ hội tốt cho những người tỵ nạn.
Chúng tôi cần sự giúp đỡ và chia xẻ thay vì phê bình chỉ trích.
Đối với những người bạn của chúng tôi, chúng tôi mong muốn họ có mặt tại chỗ để xem xét những công việc làm của chúng tôi. Chúng tôi không có gì để che dấu, mặc dầu còn có những khuyết điiểm và những bất cập về phía chúng tôi.
Chúng tôi tin rằng với những khó khăn, những bất cập, chúng tôi vẫn tin chắc rằng, chúng tôi vẫn hoạt động vì hạnh phúc của con người.
Hồ Chí Minh- ville, le 28 juin 1979.
Bạn đọc đã có cơ hội trực tiếp với lá thư trên, tin hay không tin, chấp nhận hay không là tùy bạn đọc.
Sau đây, người viết bài này, xin liệt kê danh sách các trí thức đã ký trong lá thư này. Tôi xin thưa là tôi không có điêu kiện để biết ai là người viết lá thư này, ai là người chủ mưu tích cực đã đồng thuận, ai là người bị hài tên mà phải im lặng.
Chỉ biết rằng cũng có thể một thiểu số các trí thức này đã bị dối gạt, điền tên ngoài ý muốn của họ.
Trong một chừng mực có thể, tôi chỉ biết một số người trước đây đã ra mặt ủng hộ cộng sản một cách công khai như : Vũ Hạnh, Châu Tâm Luân, ni sư Huỳnh Liên, lm Huỳnh Công Minh. Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, bà Ngô Bá Thành, Lý Chánh Trung, lm Phan Khắc Từ, dân biểu đối lập Lý Quý Chung, ông Võ Đình Cường, Thượng tọa Thích Minh Châu, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, linh mục Trương Bá Cần, nghệ sĩ Kim Cương, ông Tôn Thất Dương Kỵ.. Lê Văn Nuôi, Lê Văn Giáp, luật sư Nguyễn Long, luật sư Trần Ngọc Liễng, Huỳnh Tấn Mẫm, luật sư Trịnh Đình Thảo, luật sư Triệu Quốc Mạnh và Cao thị Quế Hương.
( Trường hợp luật sư Trịnh Đình Thảo, chủ tịch MTGPMN đã từng khuyên con rể- bác sĩ Nguyễn văn Hoàng trốn khỏi miền Nam.)
Và có thể còn nhiều người khác- bề ngoài theo cộng sản- bề trong cũng có tâm trạng họ bị dối lừa như trường hợp Lữ Phương, kỹ sư Trương Như Tảng vvv..
Ngoài những người trên, còn có một thiểu số vài người mà tôi cho rằng tên tuổi họ bị điền tên ngoài ý muốn như: Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, tiến sĩ vạn vật học.
Giáo sư Phạm Biểu Tâm, giáo sư y khoa sài gòn.
Giáo sư Lê Văn Thới, tiến sĩ hóa học, giáo sư khoa học
Trần Kim Thạch, giáo sư địa chất học..
- Nhận xét về tác giả Alain Ruscio và cuốn sách: Vivre au Viêt Nam cũng như nội dung lá thư gửi những người bạn Âu Châu.
- Alain Ruscio với cuốn sách Vivre au Viêt Nam .
Alain Ruscio vốn là một giáo sư sử học với một luận án tiến sĩ nhan đề: L’opinion publique francaise pendant la guerre d’Indochine, 1945-1954.
Ông thuộc nhóm Thiên tả của tờ L’humanité được gửi sang Viêt nam trong hai năm. Cho nên không lạ gì lập trường nghiêng về phía phe xã hội chủ nghĩa của ông. Phải mất 6 năm sau ngày 30 tháng tư để ông cho in ra cuốn sách này với 348 trang.
Nội dung cuốn sách chứa đựng phần nhỏ một số sự thật, phần còn lại đa số nửa sự thật và biện hộ cho những sai lầm.
- Tỉ dụ: đây là một số sự thật .
- Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp rồi Mỹ, trích theo tài liệu của tác giả Wilfred Burchett kể lại cho thấy có một sự xuất huyết những cán bộ cao cấp của đảng. Tài liệu cho hay, một cán bộ ở tỉnh Bình Dương vào năm 1963 có 75 cán bộ lãnh đạo. Hai năm sau chỉ còn lại 10 người. Sau đó, chỉ còn lại một người sống sót.
- Sự mất mát này là một đau đớn không nói hết được.
- Trong chiến dịch Phoenix( Phượng Hoàng) số lượng Việt cộng bị tiêu diệt là khủng khiếp. Trung bình 50 việt cộng/một tháng. Tính từ năm 1968-1971, con số đẫ lên tới 20.936 cán bộ bị tiêu diệt.( Xem A.Guérin, les gens des CIA, 1980, trang 102-113.
- Giải thích về tình trạng này là do tình trạng tập quyền của bộ máy hành chính mà trong đó: Cấp dưới sợ cấp trên nên ngụy tạo các bá cáo giả để vừa lòng cấp trên, hoặc ngược lại sợ cấp dưới vượt trội hơn mình, hoặc vì bảo thủ, sợ bất cứ cái gì mới mẻ, thay đổi hoặc sợ sai lầm nên không làm gì cả hoặc chỉ làm những gì cấp trên quyết định.
- Nói chung là nạn tập quyền gây ra sự trì trệ, mất phương hướng.
- Sự tập quyền mà cho đến hiện nay vẫn không thay đổi và rào cản cho sự phát triển, đổi mới và tiến bộ. Nạn tập quyền, bàn giấy như thể những ông quan cai trị như lãnh chúa vô cảm, độc đoán và bất lực.
- Về cái được gọi là lực lượng thứ ba. Tiêu biểu như Ngô Công Đức, Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung.( xem các trang từ 174-182)
Đây là phần tài liệu mà người viết bài này muốn đào sâu hơn cả.
- Nói chung bọn họ thù ghét người Mỹ và những kẻ tay sai như chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Nhưng con đường trở thành lực lượng thứ ba là một đoạn đường dài. Vì trước đây họ bị nhồi sọ là người cộng sản không có tổ quốc, không có tôn giáo cũng không có gia đình. Chống Mỹ, nhưng chưa có cơ hội trở thành cộng sản đưa đến chọn lựa bất đắc dĩ: Lực lượng thứ ba. Họ tự hào và hãnh diện có tờ báo Tin Sáng, một tờ báo duy nhất không cộng sản trong một xã hội cộng sản!!. ( Tin Sáng đã có mặt trước 1975- 19-8-1972 với những cây viết sáng giá như Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Dương Văn Ba và nhiêu tên tuổi khác khác. Đặc biệt có một bút danh “ Tư Trời Biển” mà nhiều người cùng xử dụng để tránh né chuyện bị ra tòa. Người chịu trách nhiệm duy nhất về pháp lý là chủ nhiêm Ngô Công Đức. Ngô Công Đức sinh năm 1936- 2007, thọ 71 tuổi, người gốc Trà Vinh. Ông được coi là một người có tài, có óc tổ chức, một doanh nhân thành đạt. Và tôi được biết khi về già, ông tự ví mình như” Cảnh bèo giạt hoa trôi giữa cuộc đời”
- Ngoài ra, nhóm thành phần thứ ba còn có nhiều hoạt động bên lề như Phong trào SVHS, Phụ nữ đòi quyền sống, Phong trào cứu đói mà mục đích chính là phá rối và gây bất ổn cho chính quyền miền Nam.
- Đến tháng 5/1975, ông Trần Bạch Đằng, tự Tư Ánh, trưởng ban tuyên huấn, đầu óc cởi mở như thủ tướng Võ Văn Kiệt cho phép Tin Sáng tái bản với nguyên tắc” cứ làm như cũ”. Nhưng một tờ báo như Tin Sáng tồn tại được bao lâu?( 5 năm) Mặc dầu bọn họ đã cố gắng thu mình lại, cố gắng nhún nhường để tồn tại. Như Lý Quý Chung đã cố hạ mình như sau: Trước đây, chúng tôi là những thợ bửa củi( Bucherons, phá phách), nay chúng tôi là những người thợ nề. ( Menuisiers, xây dựng) Và họ tuyên bố nay họ cố gắng xây dựng xã hội Việt Nam, hữu ích hơn, trách nhiệm hơn.
- Họ càng có uy tín, có nhiều bạn đọc, họ càng sợ bị Đảng nghi ngờ đóng cửa. Càng được dân chúng tin tưởng, mua báo càng sợ.
- Họ có những bức tranh hý họa như Ông Phóng Đại, Ông Cửa Quyền, Ông nịnh hót, ông Tham ô, ông Quan Liêu. Những bức trang hý họa này có giá trị thuyết phục lắm.
- Phần Lý Chánh Trung, một dân biểu của chế độ mới thành thực cho rằng: Lực lượng thứ ba trước đây chỉ là một khát vọng hơn là một tổ chức thực sự. Số lượng trên dưới chưa tới trăm người, mỗi người mỗi ý, chẳng ai lệ thuộc ai. Và không có một ý thức hệ chung nào..
- Vì thế, Frank Snepp, một trùm lãnh đạo C.I.A cho rằng: cũng cần vô hiệu hóa thành phần đối lập không cộng sản cũng là những công việc của họ.
- Sau khi nhiệm vụ của Tin Sáng được coi là “ thi hành xong nhiệm vụ”. Công việc đóng cửa Tin Sáng do trùm cộng sản Lê Đức Thọ cho rằng tư tưởng hữu khuynh đã đến lúc cần phải đóng cửa Tin Sáng, đồng thời đóng cửa luôn tờ Đứng Dạy , trước 1975 là tờ Đối Diện do linh mục Stephano Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan đồng sáng lập. Từ Đối Diện đổi ra Đứng Dạy mang nhiều ý nghĩa lắm: Từ đối đầu đổi sang cộng tác còn gì đẹp bằng!!
- Nhiều người như Châu Tâm Luân tỏ ra thất vọng đã chọn lựa im lặng và thầm lặng rút lui.
- Ngô Công Đức, quản nhiệm tờ Tin Sáng cũng phải nhìn nhận: một số người trong chúng tôi chao đảo và một số khác ra đi nửa chừng. Trước khi chết: Ngô Công Đức tự ví mình như : Lục bình trôi giữa dòng sông đời
- Hồ Ngọc Nhuận, một nhân vật nổi đình đám, tác giả cuốn: Đời sau này cay đắng xin ra ra khỏi mặt trận tổ Quốc. Phần Lý Chánh Trung cố vớt vát nói: Tôi mong ước một cuộc mạng ôn hòa và một xã hội mới với càng ít đau thương chừng nào hay chừng nấy.
- 5 năm làm việc và cộng tác với chính quyền mới trong số tất cả bọn họ- không trừ ai- mà tôi đã nêu tên trong danh sách. Không một ai thực sự có vai trò trong bộ máy chính quyền cộng sản. Không. Không một ai..
Họ chỉ đóng vai trò làm cảnh, trang trí cho chế độ. Chưa kể một vài người trong số họ bị tù cộng sản, theo Đoàn Văn Toại như trường hợp Tôn Thất Dương Kỵ..
Sau này trở cờ có kỹ sư Trương Như Tảng, Lữ Phương và có thể còn nhiều người khác.
Phần tôi khiêm tốn nhận định rằng: tất cả bọn họ là những người làm chính trị không vốn!! Và số phận họ đã được định sẵn đến chỗ tan hàng!!!

Nhận xét
Đăng nhận xét