Tại sao lại chọn cái hèn mạt để lên phim ?
Việc nhân danh lòng yêu nước để hạ bệ, xuyên tạc cuộc đời của những tiền nhân như Nam Phương Hoàng hậu và cựu hoàng Bảo Đại không chứng minh được sự tân tiến, mà chỉ vạch trần một nhân cách lệch lạc, một tư duy bị xơ cứng. Những chiếc "loa phát thanh" nhai lại định kiến này không giúp xã hội tiến bộ, ngược lại, chúng chính là những sợi dây kìm hãm sự phát triển của một nền văn minh biết tôn trọng sự thật và tri ân lịch sử.
Trong dòng chảy thảo luận văn hóa - lịch sử trên không gian mạng hiện nay: Sự va chạm giữa góc nhìn lịch sử đa chiều, nhân văn với xu hướng đơn giản hóa, kịch tính hóa (drama hóa) để phán xét quá khứ.
Trong kỷ nguyên số, khi thông tin được đại chúng hóa, lịch sử không còn là lãnh địa độc quyền của các học giả mà trở thành chất liệu cho những cuộc tranh biện mở. Tuy nhiên, sự tự do này lại sinh ra một bộ phận người trẻ tạm gọi là thế hệ "phán xét dòng thời gian" những người mang một tâm lý tự luyến sâu sắc, tự phong mình làm quan tòa lịch sử để hạ bệ tiền nhân bằng một phông nền kiến thức chắp vá và một tư duy nhồi nhét, định kiến. Xu hướng dùng tư duy nhị nguyên “Dân nghèo luôn đúng - Vua quan luôn sai” để tấn công một tác phẩm điện ảnh hay một nhân vật lịch sử như cựu hoàng Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu chính là biểu hiện rõ nét nhất của một lỗ hổng lớn về cả kiến thức lẫn nhân cách ứng xử đối với quá khứ.
Sự yếu kém đầu tiên của nhóm đám đông này nằm ở phương pháp luận mang tính ngụy biện: lôi các nhân vật thường dân từ trang sách văn học hư cấu để phân bì, đối trọng với những vương tôn quý tộc có thật trong lịch sử. Đây là hành vi đánh tráo khái niệm một cách thảm hại. Văn học dùng góc nhìn nghệ thuật để phản ánh số phận con người, còn lịch sử đòi hỏi sự khách quan mang tính bối cảnh.
Việc ép buộc một tầng lớp hoàng tộc phải sống cảnh bần hàn, khốn khổ thì mới "vừa mắt" đám đông phản ánh một tâm lý đố kỵ xã hội sâu sắc. Tư duy nhị nguyên, máy móc (Vua chúa = ác bá, Cường hào; Dân nghèo = Chân thiện mỹ) đã triệt tiêu hoàn toàn khả năng tư duy phản biện. Họ quên mất rằng phim ảnh hay nghệ thuật chỉ là một lát cắt để soi chiếu thời đại, chứ không có nghĩa vụ phải biến thành một bài giảng đạo đức theo tiêu chuẩn kép của người đời sau.
Sự xấc xược thường tỉ lệ thuận với sự thiếu hiểu biết. Việc đám đông dùng những từ ngữ chợ búa để quy chụp cựu hoàng Bảo Đại "vác kiếm đi hưởng thụ trên xương máu nhân dân vào năm 1946" là một minh chứng hùng hồn cho sự mù mờ về dòng thời gian lịch sử.
• Sau tháng 8/1945, vua Bảo Đại đã thoái vị để trở thành công dân Vĩnh Thụy. Đến năm 1946, ông là một kẻ lưu vong, thân cô thế cô nơi đất khách quê người (Hồng Kông). Ông không còn vương quyền, không còn ngân khố, lấy tư cách gì để điều hành hay "hưởng thụ trên xương máu nhân dân"?
• Về Nam Phương Hoàng hậu: Việc gộp bà vào cái mác "hưởng lạc" là một sự vu vạ vô lối. Năm 1946, tại Huế, một mình bà gồng gánh nuôi con giữa làn bom đạn thời cuộc. Bức thư gửi Lý Lệ Hà – người tình của chồng – không phải là văn bản của một kẻ bề trên quyền lực, mà là tiếng lòng tủi hổ, cô độc nhưng đầy kiêu hãnh của một người vợ bị phản bội.
Hơn ai hết, lịch sử công bằng đã ghi nhận: chính Nam Phương Hoàng hậu đã dốc cạn tư trang, vàng bạc cá nhân để đóng góp cho "Tuần lễ Vàng" nhằm cứu đói và ủng hộ kháng chiến. Sự hy sinh và tấm lòng hướng về bá tánh của bà là một nhân cách cao quý, vượt lên trên mọi sự ghen tị giai cấp tầm thường.
Khi đứng ở thời bình với một "cái bụng no", người ta rất dễ buông lời phê phán một vị vua là "bất tài" hay "bù nhìn". Nhưng lịch sử phải được đặt vào hệ quy chiếu của thời điểm đó. Triều Nguyễn sau 80 năm bị thực dân Pháp bảo hộ đã hoàn toàn bị tước đoạt vũ trang, không quân đội riêng, không quyền thu thuế, không quyền hành pháp. Một vị vua không binh, không quyền, kẹt giữa các họng súng siêu cường (Pháp, Nhật, Đồng Minh) thì lấy gì để xoay chuyển cục diện bằng con đường binh đao? ngay cả một thực thể khổng lồ như Thanh triều ở Trung Hoa còn phải khuỵu gối trước các đế quốc, thì một nước Việt nhỏ bé thời bấy giờ buộc phải tìm những lối đi ngoại giao hiểm nghèo.
Việc Bảo Đại chấp nhận giải pháp lập chính phủ Trần Trọng Kim là một nỗ lực mạo hiểm để giành lại hai chữ "Độc lập" trên danh nghĩa. Đặc biệt, quyết định thoái vị vào ngày 30/8/1945 với tuyên bố bất hủ: "Trẫm ưng làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước nô lệ" không phải là sự đầu hàng của một kẻ bất tài, mà là sự hy sinh đại cuộc của một bậc vương tử thức thời. Quyết định đó đã giúp quốc gia tránh được một cuộc nội chiến đẫm máu trong bối cảnh thù trong giặc ngoài, đồng thời trao lại tính chính danh trọn vẹn cho chính thể mới một cách hòa bình.
….Đây là thư hoàng hậu viết cho vua Bảo Đại vào 17/1/1953, khi biết chồng muốn đóng trước tiền cho một cơ sở thể thao để khi có dịp bà về Việt Nam có thể đến chơi. Bà trả lời chồng :
" Mình không nên phí phạm… em đang cần 3.500.000fr. Mình nên tặng em số tiền này, coi như quà mừng sinh nhật em vào cuối năm nay khi em tròn 40 tuổi… Với số tiền này, em có thể kín đáo làm nhiều việc thiện… nhiều sinh viên của ta không được ở ký túc xá, đang phải ở bên ngoài, bị chủ nhà trọ bóc lột tàn tệ…”
(Nguồn : Nam Phương - Hoàng hậu cuối cùng của triều Nguyễn)
Tác giả Lý Nhân Phan Thứ Lang (một nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử chuyên viết về các nhân vật triều Nguyễn và giai đoạn lịch sử này).

Nhận xét
Đăng nhận xét