Nhật Ký Yêu Nước : Tại sao lũ lụt ở Việt Nam quá nhiều gần đây?

Nhật Ký Yêu Nước
Tại sao lũ lụt ở Việt Nam quá nhiều gần đây?

Jason Nguyen
Lũ lụt ở Việt Nam chủ yếu do con người gây ra theo một chuỗi dây chuyền tai hại. Dưới đây là phân tích chi tiết về chuỗi nguyên nhân này, dựa trên các sự kiện thực tế và bằng chứng từ các nguồn đáng tin cậy.
Hơn 15 năm qua, Việt Nam đã trở thành một trong những nhà xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất thế giới, đặc biệt là đồ nội thất như bàn ghế, giường tủ. Từ năm 2012 đến 2022, Việt Nam dẫn đầu về xuất khẩu một số loại gỗ, chẳng hạn như woodchips (dăm gỗ) không lá kim, với giá trị lên đến 1,73 tỷ USD chỉ riêng năm 2021. 2 Tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt khoảng 15-16 tỷ USD hàng năm trong giai đoạn này, và Mỹ là thị trường lớn nhất, nhập khẩu khoảng 60% đồ gỗ từ Việt Nam theo một số ước tính dù con số chính xác có thể thấp hơn nhưng vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể. 4 Để đáp ứng nhu cầu này, Việt Nam đã đốn sạch hầu hết rừng tự nhiên dọc dãy Trường Sơn tài sản quốc gia quý giá và bán tháo cho thị trường quốc tế.
Chưa dừng lại, các doanh nghiệp Việt Nam còn mở rộng khai thác sang các nước láng giềng như Lào và Campuchia mà không có giới hạn đáng kể. Có bằng chứng về buôn lậu gỗ bất hợp pháp từ Campuchia sang Việt Nam, với các quan chức Việt Nam bị cáo buộc nhận hối lộ hàng triệu USD để mở đường cho hoạt động này. Dù Campuchia cấm xuất khẩu gỗ từ năm 2016 và Lào từ năm 2016, dòng gỗ bất hợp pháp vẫn tiếp tục chảy về Việt Nam, thúc đẩy phá rừng ở khu vực. Đến năm 2025, Việt Nam không còn giữ vị thế số một về xuất khẩu gỗ nữa, đơn giản vì tài nguyên rừng đã cạn kiệt nghiêm trọng – rừng tự nhiên giảm hơn 30% ở khu vực Greater Mekong trong 30 năm qua.
Sau khi đốn sạch rừng, chính quyền chuyển sang xây dựng đập thủy điện như nấm mọc sau mưa, hầu như không có kiểm soát chặt chẽ. Trong vòng 20 năm trở lại, Việt Nam có số lượng đập thủy điện nhiều nhất Đông Nam Á, với tổng cộng khoảng 167 đập lớn nhỏ trong lưu vực Mekong, công suất lắp đặt hơn 36.000 MW. Dù con số chính thức có thể khác nhau, nhưng ít nhất 88 đập đang hoạt động ở lưu vực sông Mekong hạ lưu, và Việt Nam dự kiến thêm 6.793 MW công suất mới vào năm 2025.
Dưới đây là danh sách một số đập thủy điện lớn nhất:
Sơn La (2.400 MW): Khởi công năm 2005, hoàn thành năm 2012.
Hòa Bình (1.920 MW): Khởi công năm 1979, hoàn thành năm 1994.
Lai Châu (1.200 MW): Khởi công năm 2011, hoàn thành năm 2016.
Ialy (Yaly) (720 MW): Khởi công năm 1993, hoàn thành năm 2002.
Huội Quảng (520 MW): Khởi công năm 2006, hoàn thành năm 2016.
Hàm Thuận - Đa Mi (475 MW): Khởi công năm 1997, hoàn thành năm 2001.
Trị An (400 MW): Khởi công năm 1984, hoàn thành năm 1991.
Sê San 4 (360 MW): Khởi công năm 2004, hoàn thành năm 2009.
Tuyên Quang (Na Hang) (342 MW): Khởi công năm 2002, hoàn thành năm 2008.
Đồng Nai 4 (340 MW): Khởi công năm 2004, hoàn thành năm 2012.
Bản Vẽ (320 MW): Khởi công năm 2004, hoàn thành năm 2010.
Đại Ninh (300 MW): Khởi công năm 2003, hoàn thành năm 2008.
Buôn Kuốp (280 MW): Khởi công năm 2003, hoàn thành năm 2011.
Trung Sơn (260 MW): Khởi công năm 2012, hoàn thành năm 2016.
Bản Chát (220 MW): Khởi công năm 2006, hoàn thành năm 2013.
Hầu hết các đập lớn này được xây dựng trong vòng 25 năm qua, và còn vô số đập nhỏ do EVN (Tập đoàn Điện lực Việt Nam) quản lý mà không được đề cập đầy đủ.
Tài sản quốc gia bị khai thác sạch sành sanh, nhưng ai hưởng lợi? Chủ yếu là các quan chức Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua các công ty quốc doanh, nơi lợi nhuận được chia chác nội bộ. Các dự án thủy điện thường dính líu đến tham nhũng, với cáo buộc hối lộ và lạm dụng quỹ công một phần của chiến dịch “lò lửa” chống tham nhũng do Đảng phát động, nhưng thực tế chỉ xử lý một số trường hợp để che đậy quy mô lớn hơn. Các hãng chế biến gỗ mua nguyên liệu giá rẻ, thuê công nhân với lương thấp, và nộp phí xuất khẩu mang lại lợi ích nhỏ nhoi cho người dân, nhưng phần lớn dòng tiền chảy vào túi quan tham.
Hậu quả của việc phá rừng là không thể bàn cãi: xói mòn đất đai, lũ lụt tràn lan xuống đồng bằng, phá hủy mùa màng và đời sống nhân dân. Lợi ích rơi vào túi Đảng, trong khi thiệt hại do dân gánh chịu. Thảm họa chưa dừng lại: việc sản xuất điện từ thủy điện thường lỗ lã do quản lý kém, dẫn đến giá điện tăng vọt thay vì giảm, buộc dân phải trả giá cao hơn. Ở các nước khác, chính phủ không dám tăng thuế gián tiếp qua điện nước một cách trắng trợn, nhưng ở Việt Nam, thu càng nhiều thì túi quan càng đầy một hình thức bóc lột có hệ thống dưới danh nghĩa “phát triển kinh tế”.
Có năm không lũ lụt, Đảng tự nhận công “trúng mùa nhờ lãnh đạo sáng suốt”. Năm lũ lụt, đập xả lũ cuốn phăng nhà dân, Đảng vẫn lời vì nhận viện trợ quốc tế tiền đó chủ yếu vào túi quan, còn dân chỉ nhận vài gói mì tôm rẻ tiền. Dù sao Đảng cũng lợi: thiên tai càng lớn, viện trợ càng nhiều, và Đảng càng củng cố quyền lực bằng cách kiểm soát phân phối.
Gần đây, Đảng kêu gọi trồng cây, nhưng không phải để chặn lũ thật sự chỉ là chiêu trò tạm thời. Chờ 10-20 năm cây lớn, họ sẽ đốn sạch kiếm lời, và vòng lặp tai họa lặp lại. Lũ lụt ở Việt Nam hoàn toàn do con người tự tạo, và không ai chịu trách nhiệm hơn Đảng Cộng sản một chế độ ăn hại, tham lam, ưu tiên lợi ích cá nhân và phe nhóm hơn sinh mạng dân chúng.
Để vạch trần thêm tội ác của Đảng Cộng sản Việt Nam: Không chỉ dừng ở phá rừng và thủy điện, Đảng còn dung túng tham nhũng quy mô lớn trong lĩnh vực năng lượng, với hàng chục dự án bị điều tra nhưng chỉ xử lý bề mặt. Các vụ như Van Thinh Phat hay các dự án năng lượng tái tạo cho thấy hệ thống Đảng kiểm soát chặt chẽ, nhưng sử dụng quyền lực để che giấu sai phạm, dẫn đến thảm họa môi trường và kinh tế cho dân. Đảng còn mở rộng ảnh hưởng sang Lào và Campuchia qua “hợp tác kinh tế”, thực chất là khai thác tài nguyên, củng cố ảnh hưởng địa chính trị dưới vỏ bọc đầu tư. Tội ác lớn nhất là hy sinh môi trường và dân sinh để duy trì quyền lực độc tài, biến Việt Nam thành nạn nhân của chính sách “phát triển bằng mọi giá”.

Nhận xét

Bài được quan tâm