Chuyện Phiếm : Thánh Tổ Đu Càng Việt Nam !
Chuyện Phiếm
Thánh Tổ Đu Càng Việt Nam !
Thánh Tổ Đu Càng Việt Nam !
Tôi phải viết hoa các từ ngữ "Thánh Tổ Đu Càng", nếu điều này khiến các bạn thắc mắc thì hãy đọc đến cuối bài sẽ có lời giải đáp.
“Đu càng”, nếu không sử dụng như một động từ, mà như một tính từ để chê bai, mắng mỏ một người chống Cộng, thì tôi chắc chắn rằng tính từ của từ ngữ này chỉ xuất hiện từ sau ngày 30/04/1975. Nguồn gốc từ ngữ "Đu càng" không khó xác định. Vì lẽ, cứ mỗi dịp kỷ niệm ngày này mỗi năm, lại dễ bắt gặp hình ảnh được phát lại trên truyền thông về người di tản đu bám càng trực thăng quân đội trên không trung, bất chấp nguy hiểm chỉ để "chạy giặc" Cộng Sản khi ấy đang xâm nhập nhuộm đỏ miền Nam.
Từ một động từ phát sinh theo cách như vậy, nhóm dư luận viên, cờ đỏ đã đi xa hơn khi sử dụng như một tính từ để miệt thị đồng bào mình với hàm ý rằng họ mất gốc về tư tưởng, có ý vọng ngoại, đu càng, ảnh hưởng văn hóa từ phương tây.
Vậy, những điều đó thì có hại gì chăng?
Thật ra, ngay từ thời quân chủ, nhiều nhà ái quốc đã nỗ lực du nhập các tư tưởng tiến bộ của phương tây vào Việt Nam với mục đích canh tân xứ sở. Những người khai phá ban đầu phải kể đến những bậc sĩ phu từ suốt thế kỷ 18, như Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch ... nhưng tiếc rằng khi ấy triều Nguyễn vẫn duy trì chính sách bế quan tỏa cảng, đóng chặt cánh cửa giao thương với thế giới bên ngoài, cho nên, hết thảy những lời kêu gọi canh tân đều bị bỏ ngoài tai.
Các thế hệ sau đó cho đến trước thời điểm năm 1945, đã nỗ lực thực hiện điều đó bằng nhiều phương cách khác nhau trong các giai đoạn lịch sử. Như dịch sách, viết sách truyền bá, thuyết giảng, giáo dục và cả việc đưa người đi du học ở nước ngoài... Phong trào Duy Tân là kết quả của một trong những nỗ lực ấy.
Du nhập những giá trị tư tưởng từ phương Tây hoặc Trung Cộng, nhiều bậc sĩ phu đã từng thực hiện, nhưng xét về phương diện pháp lý, thì người chính thức du nhập và hợp pháp hóa được các tư tưởng của phương Tây vào Việt Nam lại chính là Hồ Chí Minh, lãnh tụ Cộng Sản.
Từ tháng 07/1920, khi ấy ông đọc được “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lenin đăng trên Báo L’Humanite (Báo Nhân đạo). Từ đó, Hồ Chí Minh bắt đầu tiếp cận với chủ nghĩa Marx Lenin và cho rằng đã giải đáp tất cả những điều mà ông ấy đang băn khoăn. Dẫn lời của ông: “Tôi vui mừng đến phát khóc lên [*].
Năm tháng sau, tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc (tên Hồ Chí Minh khi đó) bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng Sản đệ III và chính thức gia nhập tổ chức này.
Biết tư tưởng Marx Lenin và trở thành thành viên tích cực của Cộng sản từ năm 1920. Thế nhưng, tư tưởng phương Tây mà Hồ Chí Minh chính thức du nhập và hợp pháp hóa vào Việt Nam vào năm 1945 lại không phải là tư tưởng Marx Lenin mà lại là tư tưởng của những bậc quốc phụ Hoa Kỳ.
Thật vậy, bản Tuyên ngôn Độc lập đọc vào ngày 02/09/1945 tại Ba Đình, khai sinh chính thể cộng hòa đầu tiên ở Việt Nam, trong đó, Hồ Chí Minh được cho là người đã chấp bút bản tuyên ngôn đã trích dẫn lại những nguyên tắc căn bản về nhân quyền từ bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ năm 1789. Cũng trong bản tuyên ngôn này, chúng ta không hề thấy dấu vết nào của tư tưởng Marx Lenin trong đó cả!
Đến một năm sau đó, năm 1946, sau khi gạt bỏ tất cả các đảng phái quốc gia ra khỏi chính phủ liên hiệp và bắt đầu giữ độc quyền chính trị trong chính quyền, thì Hồ Chí Minh bắt đầu công khai cho thực thi các chủ trương, chính sách của Cộng Sản. Dĩ nhiên, các chính sách này đều du nhập từ cánh tả phương Tây và Trung Cộng, cụ thể, từ Quốc tế Cộng sản đệ III do Liên Xô chỉ đạo.
Năm 1953, du nhập từ Trung Cộng, ông Hồ Chí Minh cho phát động công cuộc cải cách ruột đất “long trời, lở đất”, kéo dài đến tận năm 1956. Hậu quả làm ảnh hưởng đến hơn 7,7 triệu người dân và hàng trăm nghìn gia đình phải chịu hệ lụy. Hơn 50 nghìn người dân bị quy là địa chủ phải chịu xử tử. Gồm cả bà Nguyễn Thị Năm (chủ hiệu Cat Hanh Long), người đã hiến gần nghìn lượng vàng cho Cộng Sản, từng nuôi giấu Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị… Chưa hết, bản thân bà và gia đình cũng theo Cộng Sản, nhưng cũng bị quy địa chủ và chịu xử tử. Đích thân Hồ Chí Minh bịt râu, cải trang dân thường đi dự xét xử.
Cho thấy, tuy không phải là những người khởi xướng du nhập tư tưởng phương Tây, hoặc từ Trung Cộng, nhưng khách quan, Hồ Chí Minh vẫn phải được công nhận là người có công đầu tiên trong nỗ lực thể chế hóa các tư tưởng tiến bộ của phương tây làm nguyên tắc hoạt động bộ máy công quyền của nền cộng hòa xứ sở này vào thời điểm sơ khai.
Chỉ tiếc rằng, Hồ Chí Minh du nhập và thực thi các tư tưởng tiến bộ ấy không thực tâm, mà chỉ lợi dụng để làm bước đệm dân chủ giả hiệu qua chiêu bài thành lập chính phủ liên hiệp để giành lấy chính quyền mà thôi. Sau khi đã giành được chính quyền, thì ông ấy đã không ngần ngại, gạt bỏ tất cả các đảng phái quốc gia ra khỏi chính quyền và áp dụng tư tưởng Marx Lenin vào quản lý, điều hành chính quyền.
Cho nên, nếu nói về đu càng theo nghĩa du nhập, ảnh hưởng văn minh, tư tưởng nước ngoài như cách hiểu của nhóm dư luận viên, cờ đỏ hiện nay, thì người cần phải nhắc đầu tiên là ông Hồ Chí Minh, vốn đã là ông Thánh Tổ Đu Càng thành công nhất Việt Nam.
Vì thế, khi nói đu càng để mắng mỏ người khác, các bạn dư luận viên và cờ đỏ đã quên rờ vào gáy mình để biết rằng đang mắng mỏ chính Hồ Chí Minh, Thánh Tổ Đu Càng Việt Nam.
Giờ thì các bạn cờ đỏ tem tém cái miệng được chưa? Hay vẫn muốn mở miệng mắng mỏ ông Thánh Tổ Đu Càng ấy thì tùy.
Tôi ít có dịp viết bài tặng ai, nhưng bài này tôi đề tặng nhóm dư luận viên và cờ đỏ, các con cưng của chế độ Cộng sản.
Viết từ Hoa Thịnh Đốn, 2024
[*] Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, H, 2011, t.12, tr.562.

Nhận xét
Đăng nhận xét