BÀI HỌC THỔ NHĨ KỲ TRONG XUNG ĐỘT NGA-UKRAINE
BÀI HỌC THỔ NHĨ KỲ TRONG XUNG ĐỘT NGA-UKRAINE
Tác giả: TRẦN TRUNG ĐẠO
Tổng thống thứ 14 của Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay là Recep Tayyip Erdogan. Vị trí của Thổ rất tế nhị. TT Erdogan có quan hệ tốt với cả Vladimir Putin lẫn Volodymyr Zelenskyy. Cộng hòa Thổ chia sẻ biên giới trên biển Hắc Hải với hai quốc Nga và Ukraine. Trong thời gian đầu cuộc chiến Nga xâm lăng Ukraine, Erdogan chọn vị trí trung lập. Tuy nhiên trong ba ngày qua, quan điểm của ông ta thay đổi. Lập trường của Erdogan nghiêng dần về phía Ukraine khi tuyên bố “cuộc xâm lăng của Nga không thể chấp nhận” và Thổ Nhĩ Kỳ sẽ thực thi Công Ước Montreux 1936.
Công Ước Montreux 1936 là gì? Theo nội dung được ký kết tại Hội Nghị
Montreux ngày 20 tháng 7, 1936 tại Thụy Sĩ với sự tham dự và đồng ý của
Bulgaria, Pháp, Anh, Hy Lạp, Nhật Bản, Rumania, Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Tư và Liên Xô,
việc điều hành các Eo Biển Thổ (Dardanelles, Sea of Marmara và Bosphorus) được
giao cho quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ.
Mặc dù ký nhưng Liên Xô vẫn chưa hoàn toàn đồng ý với nội dung của công
ước và luôn tìm cơ hội để viết lại. Stalin trong những năm 1939, 1940 cho rằng
công ước chỉ là mảnh giấy trong khi Liên Xô mới là quốc gia bảo đảm thật sự an
ninh của các eo biển này. Tại hội nghị Potsdam 1945, Stalin đề nghị sửa đổi nội
dung công ước Montreux nhưng chưa được các quốc gia đồng minh đồng ý về chi
tiết.
Tháng 3, 1945, khi Thế Chiến Thứ Hai tới giai đoạn kết thúc với phần
thắng nghiêng hẳn về phía Đồng Minh. Liên Xô chiếm đóng gần hết miền Đông Châu
Âu và đó là cơ hội để Stalin đặt lại vấn đề các Eo Biển Thổ Nhĩ Kỳ. Stalin
tuyên bố hủy bỏ hiệp ước thân hữu giữa Liên Xô và Thổ ký kết năm 1925 và thực
hiện chủ trương kiểm soát các Eo Biển Thổ dù thông qua một hội nghị quốc tế để
viết lại Công Ước Montreux, một hội nghị song phương giữa Thổ và Liên Xô hay
ngay cả các biện pháp quân sự nếu cần để độc chiếm các eo biển.
Năm 1945, Cộng HòaThổ Nhĩ Kỳ là quốc gia chỉ mới được thành lập hơn 20
năm. Năm 1938 trước khi Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ, quân lực Thổ chỉ vỏn vẹn 174
ngàn người. Không quân Thổ có 131 phi cơ nhưng chỉ khoảng một nửa còn sử dụng
được. Hải quân Thổ để bảo vệ cạnh sườn vùng biển huyết mạch nhưng chỉ có 4800
người với vài chiến hạm lỗi thời. Liên Xô đầu Thế Chiến Thứ Hai có 8 triệu quân
và dù tổn thất lớn trong giai đoạn cuối Thế Chiến Thứ Hai có một quân đội lên
đến 11 triệu người.
Ngày 7 tháng 8, 1946, trong lá thư gởi Bộ Ngoại Giao Thổ, Liên Xô phê
bình chính sách điều hành các Eo Biển của chính phủ Thổ và đòi hỏi duyệt lại
Công Ước Montreux. Trong lá thư gởi Stalin, chính phủ Thổ đồng ý tham gia hội
nghị nhưng nhấn mạnh sẽ “cương quyết bảo vệ chủ quyền bất khả nhượng” của Thổ
trên Hắc Hải.
Quyết tâm bảo vệ chủ quyền trên biển của chính phủ Thổ là điều kiện tối
thượng nhưng chưa đủ. Với vốn liếng quân sự đang có và đà thắng của Liên Xô,
Thổ không phải là đối thủ của Liên Xô.
Nhưng đó cũng là lúc sự khôn ngoan của các lãnh đạo quốc gia thể hiện.
Tổng thống İsmet İnönü, cánh tay phải của tổng thống thời lập quốc
Mustafa Kemal Atatürk đã lèo lái Cộng Hòa Thổ từ một nước lạc hậu vừa được
thành lập không lâu dưới đống tro tàn của Đế Quốc Ottoman trở thành quốc gia
hùng mạnh ngày nay.
Một trong những bài học về quan hệ quốc tế mà các bạn Việt Nam quan tâm
đến tương lai của Việt Nam là bài học Thổ Nhĩ Kỳ. Bài viết dưới đây tác giả
viết tròn mười năm trước và đã in trong Chính Luận I, trang 33:
HIỂM HỌA TRUNG CỘNG VÀ BÀI HỌC THỔ NHĨ KỲ
Chiến tranh sẽ đến. Không cần phải là nhà tiên tri hay nhà khoa học xã
hội cũng có thể đoán được. Lịch sử loài người đã chứng minh chiến tranh và hòa
bình là hai mặt biện chứng trong tiến trình phát triển của xã hội loài người.
Vegetius trong tác phẩm nổi tiếng Quan tâm về các vấn đề quân sự (De Re
Militari) xuất bản vào thế kỷ thứ năm viết “Muốn có hòa bình, hãy chuẩn bị
chiến tranh”. Từ chiến tranh bộ lạc sang chiến tranh thuộc địa, chiến tranh khu
vực, chiến tranh thế giới, chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh lạnh,
chiến tranh giữa những người cùng chủng tộc, trong từng giờ, từng phút máu của
nhân loại đã và đang đổ xuống tại nhiều nơi trên trái địa cầu ngày càng chật
hẹp này.
Trong lúc chiến tranh là một sự kiện khó thể tránh khỏi, trong đó, nhiều
nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát và quyết định của giới lãnh đạo và nhân dân các
quốc gia nạn nhân, những nhà lãnh đạo khôn ngoan, có tầm nhìn xa, biết chọn
đúng thế đứng chính trị, không những tránh được chiến tranh mà còn vận dụng các
xung đột quốc tế để đem về các lợi ích lâu dài cho quốc gia họ.
Mustafa Kemal Atatürk nhìn về tương lai Thổ Nhĩ Kỳ
Thổ Nhĩ Kỳ dưới sự lãnh đạo của Mustafa Kemal Atatürk từ năm 1923 đến
năm 1938 và các chính phủ về sau là một bài học lớn cho nhiều quốc gia vừa
thoát khỏi chế độ phong kiến và thuộc địa. Trong số đó, hai bài học quan trọng:
Sự kết hợp hài hòa giữa tinh hoa văn hóa của dân tộc và hướng phát triển
dân chủ của thời đại.
Người lãnh đạo phải có tầm nhìn xa và khi cần phải biết chọn lựa dứt
khoát một thế đứng trong bang giao quốc tế có lợi cho sự phát triển lâu dài của
đất nước.
Mustafa Kemal Atatürk, thường được gọi tắt Mustafa Kemal, sinh năm 1881
tại Salonika trong một gia đình theo Hồi Giáo, thuộc Đế Chế Ottoman. Ông vào
trường chuyên quân sự khi tuổi mới 12. Mustafa Kemal được nhận vào học viện
quân sự năm 1902 và tốt nghiệp đại học quân sự năm 1905. Khi thế chiến thứ nhất
bùng nổ, Đế Chế Ottoman liên minh với Đức và Hung. Mustafa Kemal chỉ huy sư
đoàn 19 thuộc binh đoàn 2 và đưa quân vào hành lang Đông Âu. Ông là một sĩ quan
xuất sắc, dạn dày trận mạc, chiến đấu dũng cảm và được tặng thưởng 24 huân
chương chiến công. Mặc dù những năm cuối của thế chiến thứ nhất, liên quân
Đức-Hung thua nhiều trận lớn nhưng binh đoàn 16 dưới quyền Mustafa Kemal liên
tục đánh bại quân Nga. Khi Cách Mạng Cộng Sản 1917 bùng nổ, Nga rút quân.
Sau thế chiến thứ nhất, Đế Chế Ottoman sụp đổ, lãnh thổ bị chia cắt và
phần Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay bị đồng minh dưới quyền của Anh chiếm đóng. Tướng
Mustafa Kemal thoát ly khỏi chế độ Ottoman để phát động một phong trào võ trang
đòi độc lập cho Thổ Nhĩ Kỳ. Mặc dù bị kết án tử hình vắng mặt, Mustafa Kemal
vẫn được bầu vào quốc hội Ottoman. Khi quốc hội này bị Anh giải tán, Mustafa
Kemal kêu gọi bầu quốc hội khác và đặt trụ sở tại bản doanh của phong trào độc
lập ở Ankara. Quốc hội mới được bầu ra qua danh xưng Đại Nghị Quốc Gia (Grand
National Assembly) gọi tắt là GNA. Ngày 5 tháng 8 năm 1921, Mustafa Kemal được
GNA phong làm Tổng Tư Lịnh quân đội phong trào giành độc lập Thổ Nhĩ Kỳ. Quân
khởi nghĩa dưới quyền Mustafa Kemal đánh bại liên quân Anh, Pháp, Ý, Hy Lạp tại
nhiều nơi. Kết quả, hiệp ước Lausanne ra đời ngày 24 tháng 7 năm 1923 công nhận
nền độc lập của Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ.
Tức khắc sau khi trở thành tổng thống đầu tiên của nền cộng hòa non trẻ,
Mustafa Kemal đặt mục tiêu hiện đại hóa đất nước lên hàng đầu. Trung tâm quyền
lực chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn này là GNA trong đó đảng Cộng Hòa
Nhân Dân do Mustafa Kemal thành lập giữ gần như đa số tuyệt đối. Hiện đại hóa
không chỉ được tiến hành trong lãnh vực kinh tế nhưng quan trọng hơn trong
chính trị, văn hóa, giáo dục. Trong suốt thời gian lãnh đạo quốc gia, Mustafa
Kemal thực hiện hàng loạt các biện pháp cấp tiến bao gồm việc giải tán các cơ
sở giáo dục Hồi Giáo, bỏ tiếng Á Rập và thay bằng ngôn ngữ Thổ dùng mẫu tự
La-Tinh, thành lập các ủy ban nghiên cứu sự thành công của hệ thống kinh tế
Pháp, Ý, Thụy Sĩ, Thụy Điển để áp dụng một cách hữu hiệu vào điều kiện một quốc
gia Hồi Giáo như Thổ. Mùa hè 1924, Mustafa Kemal còn mời nhà giáo dục Mỹ John
Frederick Dewey thuộc trường đại học Columbia, đến Thổ để cố vấn chính phủ về
cải cách giáo dục.
Cơ sở lý luận Kemal
Để định hướng lâu dài cho đất nước, Mustafa Kemal xây dựng cơ sở lý luận
Kemal (Kemalism) đặt căn bản trên ba thành tố chính: Cộng Hòa (Republicanism),
Dân Túy (Populism) và Thế Tục (Secularism). Về thành tố Cộng Hòa, Mustafa Kemal
thay thế các nguyên tắc lãnh đạo quân chủ bằng các nguyên tắc dân chủ pháp trị
trong đó các quyền dân sự do chính nhân dân quyết định qua hình thức dân chủ
đại diện. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất và được bầu lên qua một cuộc
đầu phiếu phổ thông. Về thành tố Dân Túy (Populism), Mustafa Kemal quan niệm
cách mạng dân tộc dân chủ của Thổ Nhĩ Kỳ là một cuộc cách mạng xã hội nhằm phục
vụ cho lợi ích của toàn dân. Ông đề cao các giá trị văn hóa lịch sử Thổ và xem
đó như hành trang lên đường hướng tới một tương lai xán lạn cho dân tộc Thổ Nhĩ
Kỳ. Về thành tố Thế Tục (Secularism ), Mustafa Kemal chủ trương tách tôn giáo
ra khỏi nhà nước. Ngay cả câu “Nền tảng tôn giáo của quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ là Hồi
Giáo” trước đó được xem như là tự nhiên trong một nước với 99.8% dân số theo
đạo Hồi, cũng bị gạch bỏ khỏi hiến pháp. Thái độ dứt khoát của Mustafa Kemal về
tôn giáo không nhằm xóa bỏ tôn giáo hay thù địch tôn giáo nhưng nhằm mở rộng tự
do tư tưởng và nâng cao vai trò độc lập của chính phủ trong một xã hội vốn đã
bị ảnh hưởng tôn giáo đè nặng suốt sáu thế kỷ dưới thời Đế Chế Ottoman.
Chính sách Thổ Nhĩ Kỳ trong thế chiến thứ hai
Về đối ngoại, vài năm trước khi qua đời vào ngày 10 tháng 11 năm 1938,
Mustafa Kemal tìm cách cải thiện mối quan hệ ngoại giao với Anh để cân bằng cán
cân ảnh hưởng với Liên Xô.
Tổng thống thứ hai của Thổ Nhĩ Kỳ Mustafa İsmet İnönü, người kế vị
Mustafa Kemal ý thức sự chịu đựng của nhân dân Thổ trong suốt 14 năm chiến
tranh từ 1908 đến 1922 nên quyết tâm bằng mọi cách tránh đưa đất nước vào vòng
chiến một lần nữa. Khi thế chiến thứ hai bùng nổ, Mustafa İsmet İnönü tuyên bố
Thổ Nhĩ Kỳ trung lập. Nhờ thế, trong lúc phần lớn châu Âu chìm trong biển lửa,
Thổ Nhĩ Kỳ dù là vị trí trái độn giữa hai khối, không bị ảnh hưởng gì.
Tuy nhiên, cuối tháng 2 năm 1945, khi số phận của khối trục chỉ còn tính
bằng ngày, Tổng thống Mustafa İsmet İnönü khôn khéo chọn lựa đứng về phía đồng
minh. Dù không có một người lính Thổ nào ra trận, theo quyết định của hội nghị
Yalta, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn được xem là quốc gia đồng minh và là một trong những hội
viên thành lập đầu tiên của Liên Hiệp Quốc. Cả Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt
và Thủ tướng Anh Winston Churchill đều muốn Thổ Nhĩ Kỹ, quốc gia có vị trí
chiến lược ngay sân sau của Liên Xô, đứng về phía họ nên đã khuyến khích Thổ
tham gia phe đồng minh. Tương tự, Joseph Stalin cũng đánh giá cao vị trí chiến
lược của Thổ và mặc dù không tin tưởng hẳn, y vẫn nghĩ chính phủ Thổ sẽ tiếp tục
ủng hộ chính sách đối ngoại của Liên Xô như trước đây nên đồng ý đề nghị của
Thủ tướng Churchill.
Liên Xô tham vọng độc chiếm Eo biển Thổ Nhĩ Kỳ
Ngay sau khi thế chiến thứ hai vừa chấm dứt, tham vọng bành trướng về
phía đông của Stalin đang trên đà chiến thắng lộ rõ nhất là qua xung đột Eo
biển Thổ Nhĩ Kỳ (The Turkish Straits) gồm hai eo biển Bosphorus và Dardanelles
nằm giữa Bắc Hải và Địa Trung Hải. Eo biển Thổ là nguồn hải lưu huyết mạch và
là chiếc cầu biển nối hai châu Âu và Á. Eo biển là trái tim của Thổ Nhĩ Kỳ. Bất
cứ quốc gia nào làm chủ Eo biển sẽ giữ vị trí quân sự và chính trị quyết định
trong toàn vùng Biển Bắc và khu vực Balkans.
Ngày 19 tháng Ba năm 1945, Ngoại trưởng Liên Xô Vyacheslav M. Molotov
thông báo cho đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ tại Liên Xô biết Liên Xô đơn phương hủy bỏ Hiệp
Ước Cam Kết Không Xâm Lược (Non-Aggression Pact) giữa Liên Xô và Thổ được ký
kết ngày 17 tháng Giêng năm 1925. Tham vọng bành trướng của Liên Xô không phải
chỉ là chính sách riêng của Stalin nhưng là một bước kế tục truyền thống khống
chế các nước nhỏ chung quanh có từ thời các Sa Hoàng Nga.
Khi chính phủ Thổ tìm cách làm dịu mối quan hệ, Liên Xô đưa ra hàng loạt
điều kiện bao gồm việc chia quyền điều hành eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, Hồng quân Liên
Xô có trách nhiệm bảo vệ an ninh eo biển, và ngoài ra, Thổ phải trao trả cho
Liên Xô hai vùng đất Kars và Ardahan đang thuộc lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ. Chính phủ
Thổ Nhĩ Kỳ từ chối.
Thổ Nhĩ Kỳ chọn gia nhập NATO
Trước sự đe dọa của Liên Xô và sự phân cực rõ nét của chính trị thế giới
sau thế chiến thứ hai, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Mustafa İsmet İnönü ý thức rằng để
bảo vệ chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ và hiện đại hóa đất nước, Thổ Nhĩ Kỳ
phải từ bỏ chính sách đối ngoại hợp tác theo kiểu bình đẳng cùng có lợi với mọi
quốc gia để đứng về một phía có triển vọng phục vụ tốt nhất cho quyền lợi trước
mắt cũng như lâu dài của Thổ. Thổ Nhĩ Kỳ dứt khoát đứng về phía Mỹ trong cuộc
chiến tranh lạnh với Liên Xô.
Ngày 22 tháng 5 năm 1947, Tổng thống Truman ký quyết định viện trợ cho
Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp. Năm 1948, các cố vấn quân sự Mỹ bắt đầu giúp đỡ chính phủ
Thổ tái trang bị và hiện đại hóa quân đội.
Mỹ và Anh muốn dùng đất Thổ như một tiền đồn và quân đội Thổ như một đơn
vị tiền phương để làm chậm sức tấn công của bộ binh Liên Xô một khi chiến tranh
giữa hai khối bùng nổ trong lúc chờ đợi không lực Anh Mỹ mở các cuộc phản công
phát xuất từ các căn cứ không quân đặt tại Ai Cập. Dĩ nhiên, chính phủ Thổ biết
rõ thâm ý của Anh và Mỹ nhưng đó là cái giá phải chọn vì nền an ninh và sự
thịnh vượng của quốc gia Thổ.
Theo tổng kết được ghi lại trong tài liệu Tương lai chính sách đối ngoại
của Thổ Nhĩ Kỳ (The future of Turkish Foreign Policy) của hai tác giả Lenore G.
Martin và Dimitris Keridis, trong năm 1948, Mỹ viện trợ cho Thổ Nhĩ Kỳ 180 phi
cơ chiến đấu F-47, 30 phi cơ oanh tạc B-26 và 86 phi cơ vận tải C-47. Trong
thời điểm 1948, đó là một viện trợ quân sự lớn. Với số vũ khí mới, quân đội Thổ
không những có thể ngăn chặn mà nếu cần còn có khả năng oanh tạc các nguồn dầu
khí của Liên Xô tại Romania và trong vùng Caucasus.
Tuy nhiên súng đạn không phải chỉ là những gì Thổ Nhĩ Kỳ muốn nhưng quan
trọng hơn là sự bảo đảm bằng một liên minh quân sự quốc tế. Nói rõ hơn, Thổ
muốn trở thành hội viên chính thức của Tổ Chức Minh Ước Bắc Đại Tây Dương
(NATO). Tổng thống Mustafa İsmet İnönü tin tưởng hỏa lực hùng hậu của NATO và
Hạm đội Địa Trung Hải của Mỹ là bức tường thành vững chắc nhất để bảo vệ Thổ
Nhĩ Kỳ chống lại Liên Xô xâm lược. Để chứng tỏ thiện chí, Thổ Nhĩ Kỳ gởi quân
tham chiến bên cạnh các lực lượng Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên.
Ngày 18 tháng 2 năm 1952, Thổ Nhĩ Kỳ chính thức trở thành hội viên của
NATO.
Thổ Nhĩ Kỳ sau khi gia nhập NATO
Sau khi gia nhập khối dân chủ tây phương, Thổ Nhĩ Kỳ phát triển một cách
nhanh chóng trong mọi lãnh vực. Thổ Nhĩ Kỳ có nền kinh tế lớn hạng thứ 17 thế
giới với lợi tức bình quân đầu người trên 10 ngàn Dollar và là thành viên của
G-20. Từ một nước phải chịu nhún nhường trước Liên Xô và sau đó lệ thuộc vào vũ
khí của Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một quốc gia tự sản xuất và xuất cảng võ khí tối
tân. Không quân Thổ là một trong những lực lượng không quân lớn nhất của NATO.
Thổ Nhĩ Kỳ là một trong năm quốc thành viên của Chính Sách Sử Dụng Nguyên Tử
trực thuộc NATO. Hiện nay có 90 bom nguyên tử loại B61 được đặt tại căn cứ quân
sự Incirlik trên đất Thổ. Nếu có một chiến tranh nguyên tử, không lực Thổ Nhĩ
Kỳ với sự chấp thuận của NATO có quyền sử dụng các vũ khí nguyên tử đó. Các phi
đoàn chiến đấu F-16C tối tân của không quân Thổ Nhĩ Kỳ do chính công ty Công
Nghiệp Không Gian Thổ (Turkish Aerospace Industries) sản xuất. Thổ Nhĩ Kỳ còn
là thành viên của chương trình sản xuất phi cơ chiến đấu F-35, một trong những
đề án kỹ thuật cao cấp và đắt giá nhất.
Trước các thành tựu về kinh tế, chính trị và quốc phòng của Thổ Nhĩ Kỳ,
không cần phải phân tích, mọi người đều có thể hiểu, chính hạt mầm dân chủ quý
giá mà những người thành lập cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ gieo trên mảnh đất đầy phân
hóa vì độc tài phong kiến lớn lên thành cây xanh, trái ngọt cho các thế hệ Thổ
Nhĩ Kỳ hôm nay. Mười năm sau ngày độc lập, Tổng thống Mustafa Kemal phát biểu
“Cộng hòa có nghĩa lãnh đạo một quốc gia dân chủ. Chúng ta thành lập chế độ
Cộng Hòa đã mười năm, nó phải thỏa mãn các đòi hỏi của một chế độ dân chủ khi
cần đến”.
Sự chọn lựa nào mà chẳng có hy sinh. Con đường dẫn đến dân chủ của Thổ
Nhĩ Kỳ không phải bằng phẳng. Với một quốc gia mang truyền thống quân sự từ
thời Đế Chế Ottoman, trong suốt mười năm đầu sau độc lập, nước Thổ vẫn còn chịu
đựng nhiều biến cố đảo chánh, ám sát, lật đổ, treo cổ, tranh chấp giữa chính
quyền dân sự và các tưởng lãnh, nhưng tất cả đều không rung chuyển được nền
tảng dân chủ tại Thổ.
Và cũng không cần phải phân tích nhiều, mọi người đều hiểu sự chọn lựa
dứt khoát của cấp lãnh đạo Thổ sau thế chiến thứ hai đã có ảnh hưởng quyết định
trong việc đưa đất nước vượt qua hẳn quá khứ chậm tiến lạc hậu để trở thành một
quốc gia dân chủ tiến bộ duy nhất trong khối các quốc gia Hồi Giáo. Thật vậy,
nếu 1945, các lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ chấp nhận các yêu sách của Stalin và trở
thành một chư hầu không Cộng Sản của Liên Xô, nước Thổ vẫn là một nước Hồi Giáo
nghèo nàn, lạc hậu và yếu kém như nhiều quốc gia Hồi Giáo Á Phi khác hiện nay.
Trung Cộng muốn gì ở Việt Nam?
Mặc dù có những thay đổi chiến thuật trong từng thời kỳ, về căn bản, mục
tiêu của chủ nghĩa bành trướng Trung Cộng từ khi bắt đầu can dự vào cuộc chiến
Việt Nam đến nay vẫn không thay đổi. Một cách vắn tắt như đã viết trong các bài
trước, Trung Cộng muốn Việt Nam:
Hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Cộng về chế độ chính trị.
Một phần không thể tách rời trong toàn bộ chiến lược an ninh châu Á của
Trung Cộng.
Trung Cộng độc chiếm toàn bộ các quyền lợi kinh tế vùng biển Đông bao
gồm cả các vùng biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang tranh chấp.
Về mặt chính trị. Hai nỗi lo lớn của giới lãnh đạo Trung Cộng là sợ bị
bao vây từ bên ngoài và diễn biến hòa bình bên trong nội bộ Trung Cộng. Nhìn
quanh, họ chỉ thấy kẻ thù. Thật vậy, hầu hết các quốc gia dân chủ trong vùng từ
Ấn Độ đến Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan, tuy mức độ khác nhau nhưng đều
là các quốc gia đang có những mâu thuẫn căn bản với Trung Cộng, không những về
quyền lợi kinh tế mà cả chế độ chính trị. Mặc dù không công khai tuyên bố, giới
lãnh đạo Trung Cộng cũng biết hiện nay chỉ còn năm quốc gia theo một loại chủ
nghĩa mà giáo sư sử học Roderick Macfarquhar, thuộc đại học Harvard, gọi là chủ
nghĩa Lê Nin không có Mác, tức một nhà nước chuyên chính sắt máu nhưng không
còn dựa trên nền tảng triết lý duy vật. Hai cơ chế chính trị Cộng Sản Trung
Quốc và CSVN có một mối quan hệ hữu cơ mật thiết với các yếu tố tương quan và
phụ thuộc vào nhau. Sự lệ thuộc về chính trị của Việt Nam vào Trung Cộng không
chỉ giúp giữ an toàn phòng tuyến phía nam mà còn tránh sự sụp đổ dây chuyền
trong trường hợp cách mạng dân chủ tại Việt Nam diễn ra trước. Không giống như
điều kiện chính trị thời điểm hội nghị Thành Đô, các phát triển chính trị và
quân sự vùng Á Châu và Thái Bình Dương đang diễn ra cho thấy cuộc cách mạng dân
chủ có nhiều khả năng diễn ra tại Việt Nam sớm hơn Trung Cộng.
Về mặt kinh tế. Hơn ai hết, giới lãnh đạo Trung Cộng biết chế độ CS như
người đi trên dây, ngồi trên lưỡi dao cạo. Sự ổn định tại Trung Cộng hiện nay
chỉ là sự ổn định tạm thời vì cơ chế chính trị Trung Cộng vốn được xây dựng
trên một nền tảng bất ổn. Trong suốt 40 năm từ khi chương trình hiện đại hóa của
Đặng Tiểu Bình ra đời, các thế hệ lãnh đạo đảng tập trung vào việc phát triển
kinh tế để vừa thỏa mãn nhu cầu vật chất của người dân và vừa hợp thức hóa vai
trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản. Hai yếu tố hàng đầu của một nền kinh tế sản
xuất là lao động và nguyên liệu. Lợi thế của Trung Cộng là nguồn lao động rẻ
nhưng trong điều kiện một quốc gia có mức độ lãng phí nguyên vật liệu cao trong
các nước đang phát triển như Trung Cộng, việc đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho
một nền kinh tế khổng lồ nhưng lạc hậu về quản trị là một thách thức lớn cho
giới lãnh đạo.
Hàng hóa của Trung Cộng xuất cảng phần lớn là hàng hóa tiêu dùng nhưng
đây cũng là những loại sản phẩm mà quốc gia nào cũng có thể sản xuất được. Sự
lớn mạnh của khối được gọi là các Nền Kinh Tế Đang Hứa Hẹn (Emerging Economies)
trong đó Ấn Độ, với dân số 1.2 tỉ và mức xuất cảng cùng loại hàng hóa như Trung
Cộng tăng 100 phần trăm trong vòng 10 năm qua là mối đe dọa lớn cho hàng hóa
Trung Cộng. Để duy trì giá thành sản phẩm thấp, Trung Cộng không thể mua nguyên
liệu theo giá trên các thị trường quốc tế London, New York hay nhập từ các nước
châu Âu nên tìm cách khai thác các nguồn nguyên liệu rẻ qua chính sách thực dân
đỏ bất nhân như đang diễn ra tại nước châu Phi, như trường hợp Congo.
Riêng với Á châu, khu vực này không chỉ là thị trường tiêu thụ mà còn là
nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho nền kinh tế Trung Cộng. Miếng mồi
ngon nhất, hấp dẫn nhất, đủ tiêu chuẩn kinh tế, chính trị, quân sự nhất không
đâu khác hơn là Việt Nam. Chủ trương muốn Việt Nam là phần không thể tách rời
trong toàn bộ chiến lược châu Á của Trung Cộng quá rõ ràng, không cần phải một
nhà phân tích chính trị cỡ Carlyle Thayer mới thấy mà ngay trong tác phẩm Sự
Thật Về Quan Hệ Việt Nam-Trung Cộng Trong 30 Năm Qua Nxb Sự Thật, Hà Nội tháng
10, 1979, giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam cũng đã tự thú điều này “Việt Nam là
một đối tượng quan trọng cần khuất phục và thôn tính để dễ bề đạt được lợi ích
chiến lược của họ”.
Điểm giống nhau và khác nhau giữa Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ
Về mặt địa lý chính trị và quân sự, Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ có nhiều điểm
giống nhau. Tham vọng thiên triều của các triều đại phong kiến Trung Hoa đối
với các quốc gia nhỏ vùng Đông Nam Á, đặc biệt với Việt Nam, thâm độc không
khác gì truyền thống nước lớn của các Sa Hoàng Nga đối với các nước Đông Âu.
Hoàng Sa và Trường Sa, đôi mắt của Việt Nam nhìn ra Thái Bình Dương quan trọng
không kém gì Eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, trái tim Thổ Nhĩ Kỳ trong vùng Địa Trung Hải.
Khát vọng của dân tộc Việt Nam mong được sống trong tự do, thanh bình, thịnh
vượng sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn phá cũng sâu thẳm như ước vọng tự do,
dân chủ và thịnh vượng của dân tộc Thổ sau nhiều năm chiến tranh dưới thời Đế
Chế Ottoman, thế chiến thứ nhất và chiến tranh giành độc lập.
Sau thế chiến thứ hai và nhất là sau sự sụp đổ của hệ thống Cộng Sản,
lục địa châu Âu hiện nay được xem là ổn định. Hầu hết các quốc gia vừa thoát
khỏi chế độ Cộng Sản, kể cả Nga, vẫn còn trên đường phục hồi kinh tế, chính trị
và phục hưng các giá trị văn hóa lịch sử của dân tộc họ. Xung đột thế giới tới
đây được các nhà phân tích kinh tế chính trị nhận xét sẽ là xung đột Á Châu,
nơi đang tồn tại các hệ thống chính trị đối nghịch, các quyền lợi kinh tế đối
nghịch và các chính sách phát triển đối nghịch. Vì lý do địa lý chính trị, Việt
Nam được xem là một trong những điểm nóng nhất và có thể sẽ là ngòi nổ của cuộc
xung đột châu Á và Thái Bình Dương.
Liệu Việt Nam có thoát khỏi chiến tranh châu Á như Thổ Nhĩ Kỳ đã đứng
bên ngoài biển lửa châu Âu?
Liệu giới lãnh đạo CSVN có khả năng hóa giải các nguồn ngoại lực và biết
vận dụng vị trí chiến lược của bán đảo Việt Nam một cách khôn ngoan để phục vụ
cho lợi ích lâu dài của đất nước như các lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ đã làm?
Trước mắt, không có dấu hiệu gì cho thấy giới lãnh đạo CSVN có một nhận
thức chính trị quốc tế sáng suốt và cũng không có khả năng nào cho thấy họ có
thể từ bỏ các quyền lợi của đảng Cộng Sản vì sự sống còn của dân tộc như các
lãnh đạo đảng Cộng Hòa Nhân Dân Thổ. Những chờ đợi mỏi mòn, những van xin tha
thiết, những thỉnh nguyện thư trang trải hết ruột gan đều không mềm lòng những
kẻ mà tham vọng quyền lực và quyền lợi đã thấm vào máu, ăn sâu vào xương tủy.
Ngay cả khi Thổ Nhĩ Kỳ nhận viện trợ của Liên Xô để tái thiết đất nước
trong những năm đầu sau độc lập, Tổng thống Mustafa Kemal cũng công khai cam
kết với nhân dân Thổ: “Quan hệ hữu nghị với Liên Xô không có nghĩa là chấp nhận
ý thức hệ Cộng Sản. Chủ nghĩa Cộng Sản là một vấn đề xã hội. Các điều kiện xã
hội, tôn giáo và truyền thống dân tộc của đất nước chúng ta khẳng định chủ
nghĩa Cộng Sản không thể áp dụng tại Thổ Nhĩ Kỳ”. Việt Nam thì khác, từ ngày
thành lập đảng, mặc cho bao đổi thay trên thế giới, các cấp lãnh đạo CSVN vẫn
suốt ngày ra rả “Chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu” và quan hệ giữa hai
đảng CS Việt Nam và CS Trung Quốc vẫn là quan hệ “như môi với răng”, “vừa là
đồng chí vừa là anh em” như những năm trước 1975.
Còn lại gì hôm nay?
Giống như Adolf Hitler lợi dụng chính sách đối ngoại Nhân nhượng
(Appeasement) của Thủ tướng Anh Neville Chamberlain trước thế chiến thứ hai để
chiếm đoạt Sudetenland, lãnh thổ chiến lược và giàu tài nguyên nhất của Cộng
Hòa Tiệp Khắc, Trung Cộng cũng đang lợi dụng sự bất ổn kinh tế thế giới và
chính sách đối ngoại Nhân nhượng của Barack Obama để củng cố bộ máy quân sự và
mở rộng ảnh hưởng tại Á Châu. Dân tộc Việt Nam phải đối diện với thách thức về
cả hai mặt, bên trong, một giới lãnh đạo tham quyền cố vị, ươn hèn, và bên
ngoài, một chủ nghĩa xâm lược dã man nhất trong lịch sử loài người.
Yếu tố duy nhất còn lại là sức mạnh tổng hợp của các thành phần dân tộc. Chính các thành phần dân tộc Việt Nam trong và ngoài nước là lực duy nhất nằm ngoài sự kiểm soát của hai đảng Cộng Sản và cũng là lực duy nhất có khả năng đưa Việt Nam ra khỏi bờ vực chiến tranh và đưa đất nước tới một tương lai xán lạn cho con cháu mai sau. Các thành phần dân tộc không chỉ là những người đang công khai chống đảng, những người đứng ngoài cơ chế lãnh đạo, những người không Cộng Sản nhưng là bất cứ ai nhận thức được manh tâm của chủ nghĩa bành trướng Trung Cộng, bản chất sai lầm trong cơ chế độc tài đang thống trị Việt Nam và chọn lựa dứt khoát đứng về phía dân tộc. Thấy được con đường dân tộc phải đi và dâng hiến tình yêu cho đất nước không bao giờ quá trễ. Chọn lựa của thời đại không chỉ là chọn lựa giữa dân chủ hay độc tài nhưng quan trọng hơn thế nữa, là mất hay còn, tồn tại hay diệt vong của một dân tộc.
Từ vùng Balkans cho đến châu Phi, lịch sử nhân loại để lại vô số bài
học, chỉ vì giới lãnh đạo sai lầm và thiển cận, chỉ vì dân tộc chia rẽ và phân
hóa mà nhiều quốc gia, vương quốc, đế quốc, một thời hưng thịnh đã vĩnh viễn bị
xóa tên. Tất cả sẽ trở thành vô nghĩa khi Việt Nam không còn có mặt trên bản đồ
thế giới. Nhạc sĩ Việt Khang đặt ra một câu hỏi nhức nhối không phải cho bộ máy
công an đang giam cầm em, cho lãnh đạo đảng Cộng Sản mà cho toàn dân tộc “Cội
nguồn ở đâu, khi thế giới nay đã không còn Việt Nam”.
Trần Trung Đạo
Xem thêm: Các Bài Liên Quan
Nhận xét
Đăng nhận xét