Diễn Biến Chiến Dịch Tiến Quân Ra Bắc Hà 1789 (P1)

Diễn Biến Chiến Dịch Tiến Quân Ra Bắc Hà 1789 (P1)



Tran V. Minh

Ngày 30 tháng chạp Mậu Thân (1788), vua Quang Trung mở tiệc khao quân, chia binh ra làm năm đạo. Nhà vua bảo kín với các tướng rằng:
- Ta với các ngươi hãy tạm sửa lễ cúng Tết trước đã. Đến tối 30 Tết lập tức lên đường, hẹn đến ngày mồng bảy năm mới thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Các ngươi nhớ lấy, đừng cho là ta nói khoác!
Đó chính là...
    Thế rầm rộ như mưa như lốc...
    Từ Đàng Trong cấp tốc kéo ra...



MÙNG 1, MÙNG 2 TẾT KỶ DẬU (1789):

Khi quân ra đến sông Gián, nghĩa binh nhà Lê do Hoàng Phùng Nghĩa trấn thủ ở đó tan vỡ chạy trước. Lúc đến sông Thanh Quyết, toán quân Thanh đi do thám từ đằng xa trông thấy bóng cũng chạy nốt. Vua Quang Trung liền thúc quân đuổi theo, tới huyện Phú Xuyên thì bắt sống được hết, không để tên nào trốn thoát. Vì không hề có người chạy về báo tin, nên những đạo quân Thanh đóng ở Hà Hồi, Ngọc Hồi [thuộc Thường Tín (nay thuộc tỉnh Hà Sơn Bình) và Thanh Trì (nay thuộc thành phố Hà Nội)] đều không biết gì cả...

Nhắc lại... cuối tháng 11 năm Mậu Thân 1788, Nguyễn Huệ ở Phú Xuân nhận được tin quân Thanh sang xâm lấn. Nguyễn Huệ bình thản nói với các tướng, "Bọn chúng sang phen này để lãnh cái chết mà thôi!"
Ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung. Ngày 26, Vua Quang Trung truyền hịch đi khắp nơi, tóm tắt như sau:
"Quân Thanh sang xâm phạm bờ cõi. Bọn người phương Bắc không phải là nòi giống chúng ta, bụng dạ ắt khác. Từ cổ chí kim, chúng bao phen sang cướp bóc nước ta, vơ vét của cải, giết hại dân lành... Người mình ai cũng muốn đuổi chúng đi... Đời Hán có Hai Bà Trưng, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Hưng Đạo Vương, đời Minh có Lê Thái Tổ, đều đánh đuổi chúng... Từ thời nhà Đinh đến nay, dân ta không đến nỗi khổ như thời nội thuộc xưa kia. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước ta đặt làm quận huyện... Người trung nghĩa nào cũng có trách nhiệm cùng với ta đồng tâm hiệp lực để dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng; nếu như việc phát giác ra, sẽ bị xử tử ngay tức khắc, không tha một ai. Lúc bấy giờ chớ trách ta sao không nói trước!"
Quân Tây Sơn tiến nhanh như nước lũ, đi từ Bân Sơn đến Nghệ An (500km) chỉ trong bốn ngày. Khi đến núi Tam Điệp, Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ra đón, đều mang gươm trên lưng mà xin chịu tội. Vua Quang Trung truyền:
- Binh pháp dạy rằng: "Quân thua chém tướng". Tội của các ngươi đều đáng chết... Tuy nhiên, Bắc Hà mới yên, lòng người chưa phục, Thăng Long lại là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có sông núi để nương tựa. Năm trước ta ra đánh, Chúa Trịnh quả nhiên không thể chống nổi, đó là chứng cớ rõ ràng. Các ngươi đóng quân trơ trọi ở đấy, quân Thanh kéo sang, bọn cựu thần nhà Lê trong kinh kỳ làm nội ứng cho chúng, thì các người làm sao mà cử động được? Các ngươi đã biết nín nhịn để tránh mũi nhọn của chúng, chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu, bên trong thì kích thích lòng quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng, đó là kế rất hay!

Vua Quang Trung lại nói:
- Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn. Chẳng qua mươi ngày, có thể đuổi được người Thanh. Nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Đến lúc ấy, phải có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao. Chờ mười năm nữa, cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh, thì ta có sợ gì chúng?
Quân Tây Sơn đánh tan quân nhà Lê ở sông Gián, và tóm gọn quân do thám của Tôn Sĩ Nghị ở huyện Phú Xuyên trong hai ngày đầu năm Kỷ Dậu... Nửa đêm ngày mồng 3 tháng giêng, năm Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung tới làng Hà Hồi, huyện Thượng Phúc, lặng lẽ vây kín làng ấy, rồi bắc loa truyền gọi, tiếng quân lính luân phiên nhau dạ ran để hưởng ứng, nghe như có hơn vài vạn người. Trong đồn lúc ấy mới biết, ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng. Lương thực khí giới đều bị quân Nam lấy hết.
Đó chính là...
    Thế rầm rộ như mưa như lốc...
    Từ Đàng Trong cấp tốc kéo ra...
    Phá tan đồn trại....



Nhắc lại ... ở núi Tam Điệp, vua Quang Trung truyền cho tướng sĩ ăn Tết Nguyên Đán trước, để đến đêm Trừ tịch thì cất quân đi, định ngày mồng 7 tháng giêng thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Ngài chia quân làm 5 đạo như sau:

- Mũi chủ công, gồm các viên tướng ở trung quân chỉ huy binh mới mộ được ở Thanh Nghệ, thuộc về doanh Vua sai phái. Đại tư mã Sở, Nội hầu Lân đem tiền quân đi làm tiên phong. Hô hổ hầu đem hậu quân đi đốc chiến.

- Đại đô đốc Lộc, Đô đốc Tuyết đem hữu quân cùng thủy quân, vượt biển vào sông Lục Đầu. Rồi Tuyết thì kinh lược mặt Hải Dương, tiếp ứng đường mé đông; Lộc thì kéo về vùng Lạng Giang, Phượng Nhỡn, Yên Thế để chặn đường quân Tàu rút về.

- Đại đô đốc Bảo, Đô đốc Mưu đem tả quân cùng quân tượng mã đi đường núi ra đánh phía tây. Mưu thì xuyên ra huyện Chương Đức (nay là Chương Mỹ), tiện đường kéo thẳng đến làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, đánh quân Điền Châu; Bảo thì thống suất quân tượng mã theo đường huyện Sơn Lãng ra làng Đại Áng thuộc huyện Thanh Trì tiếp ứng cho mặt tả.

Theo Cương Mục thì trước khi tiến quân ra Bắc, vua Quang Trung có viết thư cho Tôn Sĩ Nghị vờ xin giảng hòa để khiêu gợi lòng kiêu căng, khinh địch của Nghị.
TÌNH HÌNH THĂNG LONG:

Lại nói... lúc Tôn Sĩ Nghị tiến quân đến Kinh Bắc (Bắc Ninh), vua Lê Chiêu Thống ra chào mừng rồi theo quân Thanh về Thăng Long. Sĩ Nghị đóng đồn ở giữa bãi, về mé Nam sông Nhị Hà. Bắc cầu phao ở giữa sông để tiện đi lại, và chia quân ra giữ các mặt.
Ngày hôm sau, Tôn Sĩ Nghị làm lễ, tuyên đọc tờ sắc của vua nhà Thanh phong cho Lê Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương.

Vua Chiêu Thống tuy đã thụ phong, nhưng các tờ văn thư đều phải đề niên hiệu Càn Long. Mỗi khi xong buổi chầu, lại đến dinh Nghị để bàn tính việc cơ mật quân quốc. Vua cưỡi ngựa đi với độ mười người lính hầu mà thôi. Sĩ Nghị thì ngạo nghễ, tự đắc, ý tứ cư xử với vua Lê rất khinh bạc; có khi vua Chiêu Thống lại hầu, không cho vào yết kiến, chỉ sai một người đứng dưới gác chiêng truyền ra rằng: "Không có việc quân quốc gì, xin Ngài hãy về cung nghỉ."
Người bấy giờ bàn riêng với nhau rằng: "Nước Nam ta từ khi có đế vương đến giờ, không thấy vua nào hèn hạ đến thế. Tiếng là làm vua mà phải theo niên hiệu vua Tàu, việc gì cũng phải bẩm đến quan Tổng Đốc. Thế thì có khác gì là đã nội thuộc rồi không?"

Tôn Sĩ Nghị thì càng ngày càng kiêu ngạo thêm, coi việc binh làm thường, lại thả quân lính ra cướp phá dân gian, làm lắm sự nhũng nhiễu.
Có người thân cận của vua Lê đời trước, từ phủ Trường Yên (thuộc Ninh Bình, giáp liền với Thanh Hóa) ra, bẩm với vua Chiêu Thống như sau:
- ... Quan Tổng đốc không biết... Nguyễn Huệ là một tay anh hùng kiệt hiệt, dũng mãnh và có tài cầm quân. Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không ai có thể lường biết. Hắn bắt Nguyễn Hữu Chỉnh như bắt trẻ nít, giết Vũ Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt hắn. Thấy hắn trỏ tay, đưa mắt, là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu, sợ hơn sợ sấm sét. E rằng chẳng mấy lâu nữa, hắn lại trở ra. Tổng đốc họ Tôn đem thứ quân kiêu căng xa nhà kia mà chống chọi, thì địch sao cho nổi?...
Vua nghe mới hoảng sợ, liền cùng bọn tùy tùng đến doanh Tôn Sĩ Nghị tha thiết xin xuất quân.

Tham quân của vua Lê là Vũ Trinh bẩm rằng:
- ... Xin thưa về tình hình của giặc. Đầu đảng Nguyễn Nhạc sinh trưởng ở vùng Tây Sơn, có sào huyệt hiểm yếu để nương tựa. Em Nhạc là Nguyễn Huệ vốn lão luyện về trận mạc, đang nắm giữ đội quân hùng mạnh... Ở Bắc Hà này, chỉ có đồ đảng của chúng là bọn Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân mà thôi. Nay thiên binh đến, bọn chúng thu quân tạm lánh... Nhưng nghe đâu chúng đóng quân chặn ở núi Tam Điệp, ngăn hẳn từ phủ Trường Yên về Nam, mưu đồ lại tiến ra đất Bắc lần nữa. Một tên tỳ tướng còn quỷ quyệt như thế, huống chi tên đại tù trưởng của chúng? Nếu không dùng đạo binh thật lớn mà đánh, làm sao có thể bắt được chúng?...
Nghị cười mà rằng:
- Nước ngươi vì bị tàn ngược đã lâu, mất cả tinh thần khí khái, nên động một tý là đem hùm sói doạ nhau. Theo ta xem xét thì chúng chỉ như hạng trâu dê... sai một người đem thừng buộc lấy cổ mà lôi về, hẳn cũng không khó gì...

Trầm ngâm một lúc... Nghị ngoảnh sang bảo vua Lê:
- Tự vương còn trẻ tuổi, thiệt chưa từng trải công việc! Trước đây lúc đón chào ta ở Lạng Sơn, sao không nói cho rõ? Bấy giờ, nhân khi ta đang có thanh thế, đè bẹp ngay lúc chúng còn khốn đốn, há chẳng dễ dàng hơn hay sao? Nay đã bỏ lỡ cơ hội ấy, để chúng có thì giờ thong thả mà bày mưu đặt chước. Cách trị chúng cần phải tính toán cho chu đáo, không thể hấp tấp... Vả lại, ta đã định đến sang Xuân, vào ngày mùng sáu thì sẽ xuất quân... như vậy chỉ còn vài ngày nữa. Nếu muốn đi gấp thì... cho phép vua tôi nhà ngươi đem một đạo quân đi trước cũng được!
Vua Lê chỉ còn cách truyền cho viên trấn thủ Sơn Tây đem quân bản bộ đóng trước ở cửa sông Gián, để chặn đường ra của quân Tây Sơn.

Vua Quang Trung đánh tan quân nhà Lê ở Gián Khẩu, và tóm gọn quân do thám của Tôn Sĩ Nghị ở huyện Phú Xuyên trong hai ngày đầu năm Kỷ Dậu 1789... Nửa đêm ngày mùng 3, quân Thanh ở đồn Hà Hồi bị đánh úp, cùng xin ra hàng. Lương thực khí giới đều bị quân Nam lấy hết.
BỐ TRÍ CÔNG ĐỒN NGỌC HỒI...

Sau khi hạ được đồn Hà Hồi, vua Quang Trung truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Ngài kén hạng lính kiêu dũng, cứ mười người khênh một bức, lưng giắt dao ngắn. Hai mươi người khác cầm binh khí theo sau, lập ra những đội "cảm tử." Những đội này chuẩn bị dàn thành trận chữ "nhất". Vua Quang Trung sẽ tự mình cưỡi voi dẫn đội tượng binh và những quân cảm tử tấn công đồn Ngọc Hồi, cứ điểm phòng thủ kiên cố nhất của Tôn Sĩ Nghị.
Đó chính là...
    Thế rầm rộ như mưa như lốc...
    Từ Đàng Trong cấp tốc kéo ra...
    Phá tan đồn trại gần xa,
    Sau cùng một trận...

Trích Hoàng Lê Nhất Thống Chí
(Còn tiếp)

Nhận xét

Bài được quan tâm

TRANG THƠ NHẠC VĂN CHƯƠNG ĐIỆN ẢNH TIẾU LÂM 277

TRANG THƠ NHẠC VĂN CHƯƠNG ĐIỆN ẢNH TIẾU LÂM 276