Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ


Nhật Ngôn

Bao giờ người dân Việt Nam mới thực sự có được quyền biểu tình rõ ràng như năm bản Hiến pháp đã quy định? Câu trả lời vẫn hoàn toàn bỏ ngỏ. 

Ở rất nhiều quốc gia tiến bộ trên thế giới, biểu tình là một quyền chính trị hiển nhiên của công dân. Tuy nhiên, tại Việt Nam, quyền biểu tình dù được quy định ở Hiến Pháp  nhưng thực tế lại hoàn toàn khác biệt. 

Khi xã hội Việt Nam bắt đầu manh nha ý thức dân chủ từ thời Pháp thuộc trước năm 1945, biểu tình đã bắt đầu diễn ra để phản kháng chính phủ cầm quyền. Cuộc biểu tình chống sưu cao thuế nặng nổi bật nhất trong lịch sử là Phong trào chống sưu cao thuế nặng ở Trung Kỳ năm 1908.  Hàng vạn nông dân từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, và Huế đã vây tòa Khâm sứ và các cơ quan chính quyền đòi giảm sưu thuế. Dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, xã hội dần hình thành các điều kiện để biểu tình nhờ sự du nhập của các tư tưởng tự do phương Tây và sự ra đời của các đảng phái có tổ chức. Điển hình là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, cuộc biểu tình Bến Thuỷ, Vinh – khởi đầu cho phong trào Xô nhân ngày  kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5-1930. Và đỉnh điểm là cuộc biểu tình ngày 19/8/1945 do Việt Minh tổ chức dẫn tới Cách mạng tháng Tám cướp chính quyền.

Sau khi Việt Minh tuyên bố độc lập ngày 2/9/1945, quyền biểu tình đã ngay lập tức được hiến định trong Hiến pháp 1946 tại Điều 10. Thậm chí, sắc lệnh số 31 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 13/9/1945 đã chính thức công nhận quyền này, chỉ yêu cầu khai trình trước 24 giờ. Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Ở miền Bắc, các cuộc biểu tình không còn là biểu tình phe phái, đối lập chính trị như trước năm 1945. Tất cả đều do Nhà nước và các đoàn thể tổ chức, phục vụ cho mục tiêu xây dựng CNXH và chi viện cho chiến trường miền Nam.

Trong khi ở miền Nam (VNCH), các hoạt động biểu tình vẫn diễn ra theo các biến động chính trị có tổ chức nhằm ủng hộ chính sách của chính quyền hoặc phản đối Mỹ tham chiến và mở rộng chiến tranh đánh phá miền bắc. Sau đó là các cuộc meeting ủng hộ Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam, phản đối chính sách can thiệp và sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam. Dù diễn ra rầm rộ, nhưng cũng có những cuộc biểu tình của Phật Giáo, hay sinh viên học sinh bị chính quyền đàn áp.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn. Thứ nhất, Hiến pháp quy định việc thực hiện các quyền này “do pháp luật quy định”, nhưng đến nay Việt Nam vẫn chưa hề ban hành Luật Biểu tình để hướng dẫn chi tiết. Thứ hai, quyền biểu tình trên thực tế thường bị chính quyền xử lý bằng các công cụ hành chính như Nghị định 38/2005/NĐ-CP về trật tự công cộng hoặc thậm chí là truy tố hình sự về tội “gây rối trật tự công cộng” theo Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015.

Cứ mập mờ như vậy thì bao giờ người dân Việt Nam mới thực sự có được quyền biểu tình rõ ràng như năm bản Hiến pháp đã quy định? Câu trả lời vẫn hoàn toàn bỏ ngỏ. Điều đó cho thấy các quyền chính trị của người dân thực chất chỉ là một “cái bánh vẽ” được dựng lên để trang trí. Tương tự như những lời tuyên ngôn hào hùng về quyền con người vào ngày 2/9/1945, chúng chỉ là mồi nhử phục vụ cho mưu đồ chính trị, lợi dụng tinh thần độc lập và lòng yêu nước của nhân dân để củng cố quyền lực cho một nhóm người.

Nhật Ngôn

Nhận xét

Bài được quan tâm