Người Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa

Người Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa

De Nguyen

Tháng Bảy. Nắng Sài Gòn bắt đầu gắt, xen lẫn những cơn mưa giông đổ ập xuống bất ngờ rồi chợt tắt, để lại cái không khí hầm hập bốc lên từ mặt đường nhựa. Tôi ngồi bên hiên căn nhà nhỏ ở ngoại ô, nhìn những giọt nước mưa còn đọng lại trên tán lá mai già trước ngõ.
Tiếng radio nhà hàng xóm đang phát thanh một bản nhạc cũ của Lam Phương. Giai điệu trầm buồn ấy vô tình đánh thức những khoảng ký ức tưởng chừng đã ngủ yên dưới lớp bụi thời gian hơn nửa thế kỷ.
Ở tuổi gần đất xa trời, một chân đã gửi lại chiến trường xưa, tôi chợt thèm viết, thèm kể lại một khúc đời trai trẻ, cái thời mà chúng tôi, những người lính Việt Nam Cộng Hòa, đã sống, chiến đấu và yêu hết mình giữa lòng miền Nam thương nhớ.
Tôi sinh ra và lớn lên giữa lòng Sài Gòn hoa lệ. Thế hệ của chúng tôi ngày đó, mười tám đôi mươi, tâm hồn còn đầy ắp những trang sách lãng mạn của Tự Lực Văn Đoàn, những buổi chiều hẹn hò dưới hàng cây sao đen đường Công Lý, hay những buổi cà phê lãng đãng khói thuốc ở Givral, Continental.
Thế rồi, cuộc chiến khốc liệt nổ ra như một cơn bão dữ, cuốn phăng đi những giấc mơ giảng đường, những hoài bão của đời thư sinh. Theo tiếng gọi của non sông, tôi xếp bút nghiên, từ giã mẹ già và người yêu nhỏ để bước vào Quân Trường Thủ Đức.
Ngày khoác lên mình bộ quân phục, chiếc nón bordeaux kiêu hãnh trên đầu, tôi thấy mình lớn hẳn lên. Miền Nam ngày ấy tuy chiến tranh rình rập nhưng tràn đầy sức sống và tình người. Người dân miền Nam hiền lành, chân chất, yêu chuộng tự do và đầy lòng bao dung. Những người lính chúng tôi ra đi không phải vì cuồng tín, mà vì một lý tưởng đơn giản nhưng thiêng liêng là bảo vệ sự thanh bình cho xóm làng, bảo vệ nụ cười của trẻ thơ, và giữ cho tiếng chuông nhà thờ, tiếng chuông chùa mỗi sớm mai được vang lên trong yên bình.
Cuộc đời người lính là những chuyến đi không hẹn ngày về. Tôi theo đơn vị hành quân qua khắp các Vùng Chiến Thuật. Từ vùng địa đầu giới tuyến Quảng Trị đầy gió lào cát trắng, qua những rặng núi mờ sương Cao Nguyên Trung Phần, cho đến những vùng sình lầy muỗi kêu như sáo thổi ở miền Tây Nam Bộ.
Ở đâu, chúng tôi cũng được người dân đón nhận bằng tình thương như con em trong nhà. Tôi nhớ mãi những bà mẹ quê ở Chương Thiện, dù nghèo xơ xác nhưng sẵn sàng nấu nồi khoai luộc, bẻ đôi trái bắp trao cho những người lính vừa đi hành quân về, mồ hôi nhễ nhại. Tình quân dân ngày ấy keo sơn, giản dị mà sâu nặng làm sao.
Trong những đêm hành quân giữa rừng sâu hay những lúc nằm trong công sự chờ giặc, thứ duy nhất sưởi ấm lòng người lính là tình đồng đội. Chúng tôi đến từ mọi miền đất nước, đứa là sinh viên Sài Gòn, đứa là thư sinh Huế, đứa lại là trai miệt vườn sông nước Cửu Long. Nhưng khi đã chung một màu áo, chung một chiến hào, chúng tôi trở thành anh em ruột thịt.
Chúng tôi chia nhau từng điếu thuốc Quân Tiếp Vụ, nhường nhau ngụm nước trong bi-đông, và cùng hát vang những bài ca hành khúc dưới ánh trăng rừng. Tình đồng đội của người lính Việt Nam Cộng Hòa cao quý lắm, nó được thử thách qua bom đạn, và đôi khi, được đánh đổi bằng chính máu xương.
Tôi làm sao quên được trận đánh mùa hè năm 1972 khốc liệt. Giữa làn mưa pháo gầm rú xé toạc bầu trời, thằng Nam đứa bạn thân nhất từ thuở nối khố, cùng chung đại đội đã ngã xuống ngay trước mắt tôi. Nó trúng mảnh pháo khi đang cố rướn người kéo một người anh em bị thương vào hầm trú ẩn. Khi tôi bò đến bên, ôm lấy thân thể đẫm máu của nó, Nam chỉ kịp thều thào: "Mày sống... về lo cho mẹ tao... và nhắn với Thảo là tao lỗi hẹn...".
Ánh mắt nó nhìn bầu trời rực lửa lần cuối rồi từ từ khép lại, thanh thản như một giấc ngủ dài. Tôi khóc, giọt nước mắt hòa lẫn máu và bụi đất chiến trận. Nỗi đau mất đồng đội là vết thương lòng nhức nhối nhất, theo tôi suốt cả cuộc đời.
Rồi cái ngày định mệnh của tôi cũng đến trong một trận đụng độ đẫm máu ở vùng ven Tây Ninh cuối năm 1974. Một quả lựu đạn nổ vang ngay bên cạnh. Tôi lịm đi trong cơn đau xé thịt và khoảng không gian tối sầm.
Khi tỉnh dậy tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, đập vào mắt tôi là trần nhà trắng xóa và mùi thuốc sát trùng nồng nặc. Nhìn xuống phía dưới, ống quần bên phải đã trống trơn. Tôi đã mất đi một chân. Một gã trai cựu Sĩ Quan hào hoa ngày nào, giờ đây trở thành một thương phế binh ở tuổi hai mươi lăm.
Cay đắng không? Có chứ. Tuyệt vọng không? Rất nhiều. Nhưng giữa những ngày tháng tăm tối nhất của cuộc đời, miền Nam lại ôm lấy tôi bằng sự tử tế vốn sẵn có. Cả xã hội ngày ấy dành cho những người thương phế binh chúng tôi một sự trân trọng và biết ơn sâu sắc. Những chương trình "Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ", những tà áo dài trắng của các cô nữ sinh Gia Long, Trưng Vương vào Quân Y Viện thăm hỏi, tặng quà và chép bài hộ.
Người yêu tôi, cô gái Sài Gòn mảnh mai, dịu dàng, không hề quay lưng. Em đến bên tôi, nắm lấy bàn tay gầy gộc, khóc nấc lên nhưng ánh mắt đầy kiên định: "Anh đã hy sinh cho đất nước, giờ để em làm chiếc gậy cùng anh đi suốt cuộc đời". Tình yêu thuần khiết và cao thượng ấy chính là liều thuốc hồi sinh, giúp tôi đứng dậy trên đôi nạng gỗ, tiếp tục sống một cuộc đời có ích.
Nhưng bình yên ngắn chẳng bằng một gang. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 ập đến như một định mệnh nghiệt ngã. Tiếng loa phóng thanh gầm vang lệnh buông súng. Cả kinh thành Sài Gòn rơi vào một cơn lốc xoáy của sự hoang mang, đổ vỡ và nước mắt. Tôi đứng chết lặng giữa phòng khách, đôi nạng gỗ run lên bần bật. Miền Nam tự do, tươi đẹp của chúng tôi đã không còn nữa. Những người lính kiêu hùng ngày nào, giờ trở thành những kẻ thua trận ngay trên chính quê hương mình.
Những năm tháng sau đó là một chuỗi ngày dài tăm tối và đầy tủi nhục đối với những cựu Sĩ Quan và thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. Những người anh em lành lặn của tôi phải bước vào các trại tù "cải tạo" nghiệt ngã nơi rừng sâu nước độc. Còn những người mang thân hình tàn phế như tôi thì bị gạt ra bên lề xã hội. Chúng tôi bị tước đoạt thẻ thương binh, bị xem là "ngụy quân", đi đến đâu cũng gặp những ánh mắt kỳ thị, rẻ rúng của những người nắm quyền bính mới. Cuộc sống mưu sinh trở thành một cuộc chiến mới, còn khốc liệt và dai dẳng hơn cả chiến trường xưa.
Để nuôi sống gia đình, tôi phải lê lết trên đôi nạng gỗ khắp các vỉa hè Sài Gòn. Người cựu Sĩ Quan ngày nào giờ làm đủ mọi nghề, từ sửa xe đạp, bán báo dạo, đến bán vé số. Có những buổi chiều mưa tầm tã, đứng nép dưới mái hiên của một rạp hát cũ, nhìn dòng người hối hả qua lại, tôi tủi nhục nước mắt chảy ngược vào trong. Thân thể đau nhức mỗi khi trái gió trở trời vì những mảnh đạn còn găm trong da thịt, nhưng cái đau ấy chẳng thấm vào đâu so với nỗi đau bị bôi xóa tư cách con người, bị phủ nhận mọi sự hy sinh xương máu cho quê hương.
Thế nhưng, giữa cái xã hội đầy biến động và nghiệt ngã ấy, tình người miền Nam cũ vẫn âm thầm tuôn chảy như một mạch nước ngầm mát lành. Những người dân lao động nghèo, những cô hàng xóm, những người khách qua đường... họ vẫn nhận ra chúng tôi. Đôi khi chỉ là một gói xôi bọc trong lá chuối được dúi vội vào tay, một ly trà đá miễn phí ngày hè, hay một cái nhìn cảm thông, kính trọng của một người lớn tuổi khi thấy tôi mặc chiếc áo khoác cũ màu lính đã sờn rách. Họ không gọi chúng tôi là "ngụy", họ gọi bằng hai tiếng thân thương: "Chú lính". Chính cái nghĩa tình mộc mạc, bền bỉ ấy của người dân miền Nam đã nuôi sống thể xác và gìn giữ linh hồn tôi không bị gục ngã trước thù hận và tuyệt vọng.
Năm tháng qua đi, những vết thương trên da thịt đã thành sẹo, và những vết thương trong lòng cũng dần nguôi ngoai theo mái đầu đã bạc trắng. Giờ đây, những người lính Việt Nam Cộng Hòa năm xưa người còn, người mất. Nhiều anh em đã nằm lại nơi viễn xứ, nhiều người đã khuất bóng trong nghèo khó tại quê nhà. Chúng tôi là một thế hệ bị lịch sử lãng quên, bị những trang sách giáo khoa mới bôi xóa hoặc bóp méo. Nhưng tôi tin, lịch sử công bằng nằm trong lòng dân và trong ký ức của những người đã sống qua giai đoạn ấy.
Tôi không tiếc nuối tuổi trẻ, cũng không hối hận vì chiếc chân đã mất. Tôi tự hào vì mình đã sống một thời đại bừng sáng, đã chiến đấu dưới một lá cờ tự do, và đã được làm một người lính của một miền Nam nhân bản, trù phú và giàu tình người. Mỗi khi nhìn lại tấm ảnh cũ chụp cùng đồng đội trước ngày ra trận, những gương mặt rạng rỡ, ngập tràn lý tưởng, lòng tôi lại dấy lên một niềm xúc động nghẹn ngào. Miền Nam trước năm 1975 không chỉ là một địa danh, một thể chế, mà nó là một phần máu thịt, là linh hồn, là thánh đường ký ức mà những người như tôi sẽ mang theo cho đến hơi thở cuối cùng.
Tiếng nhạc radio ngoài kia đã dứt, cơn mưa chiều Sài Gòn cũng đã tạnh, nhường chỗ cho những ánh đèn đường bắt đầu le lói.
Tôi khép lại cuốn sổ tay, lòng nhẹ nhàng kỳ lạ.
Cầu mong cho hương hồn những đồng đội của tôi đã ngã xuống được ngậm cười nơi chín suối, và cầu mong cho mảnh đất miền Nam ruột thịt này mãi mãi giữ được cái hồn nhân hậu, bao dung như nó đã từng ôm ấp chúng tôi ngày nào.

Nhận xét

Bài được quan tâm