Từ tro tàn chiến tranh và kí ức của một thế hệ

Từ tro tàn chiến tranh và kí ức của một thế hệ

Nguyễn Tuấn

Tôi mới dự buổi trình chiếu cuốn phim tài liệu “Từ tro tàn chiến tranh” (From the Ashes of War) do đạo diễn Thanh Tâm và cộng sự thực hiện.
Cuốn phim dài chừng 2 giờ, kể lại một giai đoạn lịch sử mà những người thuộc thế hệ tôi đã sống qua, và một thế hệ trẻ hơn chỉ biết qua lời kể của ba má.
Tôi đi xem phim với một chút tò mò. Tôi muốn biết người làm phim sẽ kể câu chuyện chiến tranh Việt Nam như thế nào, bởi đó là một câu chuyện đã được kể rất nhiều lần. Người Mĩ kể theo cách của người Mĩ. Người Pháp có cách nhìn của người Pháp. Nhà nước Việt Nam có một phiên bản chánh thức được giảng dạy trong nhà trường. Còn người Việt miền Nam, những người trực tiếp sống trong cuộc chiến, chịu những xáo trộn sau cuộc chiến, rồi có người phải bỏ nước ra đi, cũng có câu chuyện của họ.
“Từ tro tàn chiến tranh” kể câu chuyện đó.
■ Sau ngày chiến tranh chấm dứt
Bố cục cuốn phim khá mạch lạc. Phần đầu điểm qua những sự kiện và thời điểm quan trọng của cuộc chiến trước năm 1975. Nhưng theo tôi, phần đáng xem nhứt bắt đầu từ ngày 30 tháng Tư 1975.
Ngày đó thường được xem là ngày chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Tiếng súng ngưng. Một chánh thể cáo chung. Một chánh thể khác kiểm soát toàn bộ đất nước.
Nhưng đối với hàng triệu người miền Nam, ngày 30 tháng Tư còn là khởi đầu của một thời kì hoàn toàn khác.
Quân nhân và viên chức của VNCH được gọi đi “học tập cải tạo”. Có người chuẩn bị lương thực cho 10 ngày, một tháng, vì họ nghĩ thời gian học tập chỉ kéo dài chừng ấy. Nhiều người sau đó ở trong các trại cải tạo nhiều năm. Gia đình ở nhà bước vào một cuộc sống mới, với những đổi thay về hộ khẩu, việc làm, học hành và tài sản.
Rồi đến những vùng “kinh tế mới”.
Hàng trăm ngàn gia đình rời thành phố để đến những vùng đất xa lạ. Họ dựng nhà, khai hoang, đào giếng và tìm cách sinh sống trên những vùng đất mà nhiều người trước đó chưa từng biết đến. Với một viên chức, một giáo viên hay một gia đình buôn bán ở Sài Gòn, sự thay đổi ấy xảy ra gần như chỉ trong một thời gian rất ngắn.
Rồi đến các chiến dịch cải tạo công thương nghiệp, mà trong cách nói dân gian người ta thường gọi là “đánh tư sản”. Đời sống kinh tế và xã hội miền Nam thay đổi tận gốc.
Những biến động đó cùng với hoàn cảnh kinh tế khó khăn đã tạo nên một làn sóng ra đi ngày càng lớn.
Ban đầu người ta đi bằng đường bộ. Sau đó người ta đi bằng đường biển.
Và hai chữ Thuyền Nhân ra đời từ đó.
■ Những người kể chuyện
Một điểm tôi đánh giá cao ở cuốn phim là đạo diễn Thanh Tâm đã bỏ rất nhiều công sức để tìm tư liệu. Có những thước phim cũ mà ngày nay rất khó tìm. Có những sự kiện thiếu hình ảnh, đoàn phim phải dựng lại với diễn viên và thực hiện một số cảnh tại Thái Lan.
Nhưng tư liệu quí nhứt, theo tôi, là con người.
Rất nhiều người trong cuộc xuất hiện trong phim. Họ là cựu sĩ quan, viên chức VNCH, doanh nhân, chuyên gia, người tù cải tạo, người đi kinh tế mới và những Thuyền Nhân từng lênh đênh trên Biển Đông.
Họ kể chuyện bằng ký ức của chính mình.
Có người kể về những năm tháng trong trại cải tạo. Có người kể chuyện người thân chết trong trại. Có người kể về căn nhà mà gia đình bị lấy. Có người kể những ngày ở vùng kinh tế mới, nơi cả gia đình phải bắt đầu lại một cuộc sống mà trước đó họ chưa từng hình dung.
Những câu chuyện vượt biển còn đau lòng hơn.
Người ta xuống những chiếc ghe nhỏ, mang theo một ít thức ăn, một ít nước uống, vài chỉ vàng và hy vọng sẽ đến được một bến bờ nào đó. Trên biển họ gặp bão. Họ gặp tàu hư. Họ hết nước. Họ hết thức ăn. Có ghe gặp hải tặc nhiều lần.
Có những phụ nữ mang theo những vết thương suốt đời.
Có những đứa trẻ mất cha mẹ.
Có những người chết và được thả xuống biển.
Trong phim có một câu chuyện kinh hoàng về những người sống sót phải ăn thịt người đã chết để tiếp tục sống. Nghe đến đó, tôi nghĩ người xem hiểu rằng trong những hoàn cảnh cùng cực, ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh đến mức nào.
Lịch sử qua sách vở thường là những con số.
Lịch sử qua lời người trong cuộc là những phận người.
Đó là sức mạnh của cuốn phim.
■ Một góc nhìn từ người Việt miền Nam
Chiến tranh Việt Nam có lẽ là một trong những cuộc chiến được quay phim, chụp ảnh và viết sách nhiều nhất trong thế kỉ 20. Nhưng phần lớn những tác phẩm nổi tiếng trên thế giới được thực hiện bởi người phương Tây.
Điều đó cũng dễ hiểu. Người Mĩ có hơn nửa triệu quân hiện diện tại Việt Nam vào lúc cao điểm. Hơn 58.000 quân nhân Mĩ chết trong cuộc chiến. Cuộc chiến gây ra những chia rẽ sâu sắc trong xã hội Mĩ và để lại một vết thương tâm lí kéo dài nhiều thập niên.
Do đó, trong điện ảnh phương Tây, chiến tranh Việt Nam thường là câu chuyện của người Mĩ.
Người lính Mĩ đến Việt Nam như thế nào. Họ chiến đấu ra sao. Họ bị tổn thương tâm lí thế nào. Nước Mĩ chia rẽ ra sao. Và tại sao một siêu cường lại thất bại trong một cuộc chiến ở một đất nước nhỏ bên kia Thái Bình Dương.
Người Việt nhiều khi chỉ xuất hiện như những nhân vật chung quanh câu chuyện ấy.
“Từ tro tàn chiến tranh” đảo chiều ống kính.
Ở đây, người Việt kể câu chuyện của chính mình.
Cuốn phim phản ảnh cách nhìn của người Việt miền Nam về cuộc chiến và những gì xảy ra sau cuộc chiến. Góc nhìn ấy dĩ nhiên mang theo kí ức, trải nghiệm và những mất mát của họ. Nhưng chính vì vậy mà nó có giá trị.
Lịch sử bao giờ cũng có nhiều tiếng nói.
Tiếng nói của người chiến thắng là một phần của lịch sử. Tiếng nói của người thất trận cũng là một phần của lịch sử. Tiếng nói của người lính, người tù, người mẹ mất con, người mất nhà và người bỏ nước ra đi cũng thuộc về lịch sử.
Theo nghĩa đó, Thanh Tâm đã nói thay cho rất nhiều người Việt tị nạn.
■ Cuộc di dân trên Biển Đông
Câu chuyện Thuyền Nhân là một trong những chương bi thảm nhất của lịch sử Việt Nam trong thế kỉ 20.
Sau năm 1975, hàng trăm ngàn người Việt rời quê hương bằng đường biển. Đến cuối thập niên 1970, những chiếc ghe chở người Việt xuất hiện ở Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan, Phi Luật Tán và Hong Kong. Các trại tị nạn như Pulau Bidong, Galang, Songkhla và Bataan trở thành những địa danh quen thuộc đối với một thế hệ người Việt.
Những con số về người chết trên biển khác nhau tùy nguồn và cách ước tính. Nhưng qui mô của thảm kịch thì rất lớn. Hàng trăm ngàn người được ước tính đã chết hoặc mất tích trong hành trình tìm tự do.
Mỗi con số là một con người.
Một người cha.
Một người mẹ.
Một đứa trẻ.
Một gia đình.
Có những chiếc ghe ra đi và chẳng bao giờ có tin tức trở lại. Người thân ở Việt Nam chờ nhiều năm mà vẫn chẳng biết họ đã chết ở đâu. Biển Đông trở thành một nghĩa trang khổng lồ mà phần lớn những người nằm dưới đó chẳng có tên trên bia mộ.
Đó là một phần lịch sử rất cần được ghi lại.
■ Từ người tị nạn đến những công dân mới
Nhưng câu chuyện của Thuyền Nhân còn có một chương khác.
Đó là câu chuyện của những người sống sót.
Họ đến Úc, Mĩ, Gia Nã Đại, Pháp và nhiều quốc gia khác với hai bàn tay gần như trắng. Một bác sĩ có thể bắt đầu bằng công việc rửa chén. Một sĩ quan có thể làm công nhân. Một giáo sư có thể đi làm trong nhà máy. Những người từng có một vị trí trong xã hội miền Nam phải học lại gần như mọi thứ, từ tiếng Anh đến cách tìm việc và cách sống trong một xã hội hoàn toàn khác.
Họ làm việc. Họ dành dụm. Họ mua nhà. Họ cho con đi học.
Rồi chỉ trong một hay 2 thế hệ, một cộng đồng mới hình thành.
Ở Úc, người Việt ngày nay có mặt trong hầu hết các ngành nghề. Có bác sĩ, luật sư, kĩ sư, giáo sư đại học, doanh nhân, nghệ sĩ, dân biểu và những người hoạt động trong đời sống công cộng. Những khu như Cabramatta ở Sydney hay Footscray ở Melbourne trở thành một phần quen thuộc của xã hội Úc đa văn hóa.
Nhìn lại hành trình ấy mới thấy hai chữ “tro tàn” trong tựa phim rất có ý nghĩa.
Từ những gì tưởng như đã mất hết, người ta xây dựng lại cuộc đời.
■ Những giọt nước mắt trong rạp
Buổi trình chiếu ở Sydney thu hút rất đông người. Rạp Bryan Brown gần như đầy khách. Nhìn quanh, tôi thấy phần lớn khán giả thuộc thế hệ lớn tuổi, trong đó chắc có nhiều người từng là Thuyền Nhân.
Họ đến xem một cuốn phim, nhưng có lẽ cũng là đến gặp lại một phần đời của chính mình.
Điều làm tôi chú ý hơn là có khá nhiều người trẻ.
Ngồi cạnh tôi là một cô gái tên Mai Huyền. Tôi đoán cô cỡ tuổi con tôi. Cô chăm chú xem phim từ đầu đến cuối. Đến những đoạn kể về người tù cải tạo, vượt biển, hải tặc và những cái chết trên biển, tôi thấy cô sụt sùi. Thỉnh thoảng cô lấy khăn lau nước mắt.
Hình ảnh đó làm tôi nhớ hoài.
Tôi thuộc thế hệ mà những sự kiện trong phim là một phần của kí ức. Mai Huyền thuộc thế hệ mà những sự kiện ấy đã trở thành lịch sử.
Chỉ một thế hệ thôi.
Cha mẹ chúng ta thường ít kể chuyện đau buồn cho con cái. Người Việt lại có thói quen giữ những đau khổ cho riêng mình. Có lẽ họ muốn con cái lớn lên nhẹ nhàng hơn. Họ muốn thế hệ sau nhìn về phía trước.
Nhưng thời gian cứ trôi.
Những người 20 tuổi vào năm 1975 nay đã ngoài 70. Những sĩ quan và viên chức trung niên thời đó nay đã ở tuổi 80, 90. Thế hệ trực tiếp chứng kiến những biến động ấy đang dần trở thành những nhân chứng cuối cùng.
Vì vậy, những cuộc phỏng vấn trong phim của Thanh Tâm có một giá trị vượt ra ngoài một cuốn phim.
Đó là những chứng từ.
■ Khi kí ức trở thành di sản
Một dân tộc cần lịch sử. Một cộng đồng lưu vong càng cần kí ức.
Bởi khi rời quê hương, người ta mang theo rất ít thứ. Một vài tấm hình. Một lá thư. Một kỉ vật. Một câu chuyện của gia đình.
Rồi những câu chuyện ấy được kể lại cho con.
Và con kể lại cho cháu.
Nhưng sau hai hay ba thế hệ, kí ức bắt đầu phai. Tiếng Việt cũng có thể phai. Những địa danh như trại Suối Máu, Pulau Bidong hay Galang dần trở thành những cái tên xa lạ. Một đứa trẻ sanh ra ở Sydney hôm nay có thể biết ông mình đến Úc bằng thuyền, nhưng chẳng biết chiếc thuyền ấy đã trải qua những gì.
Đó là lúc phim ảnh, sách, hồi kí và những chứng từ trở nên quan trọng.
“Từ tro tàn chiến tranh” có ý nghĩa ở chỗ đó. Cuốn phim ghi lại tiếng nói của một thế hệ khi chúng ta vẫn còn có thể nghe chính họ kể chuyện.
Tôi cứ nghĩ đến cô gái trẻ ngồi cạnh tôi hôm nay.
Có thể cô ấy khóc vì những câu chuyện trong phim quá đau lòng. Nhưng cũng có thể trong những câu chuyện ấy cô nhìn thấy một phần lịch sử của chính gia đình mình, hay của cộng đồng mà cô thuộc về.
Và tôi nghĩ đó mới là thành công lớn của cuốn phim.
Một cuốn phim lịch sử có thể cung cấp cho chúng ta nhiều sự kiện. Một cuốn phim hay hơn còn làm cho người xem muốn hỏi cha mẹ mình: Ngày đó gia đình mình đã trải qua những gì?
Câu hỏi đó rất quan trọng.
Bởi rồi sẽ đến một ngày chúng ta muốn hỏi, mà người có thể trả lời đã ra đi.
Tôi bước ra khỏi rạp và nghĩ đến cái tên “Từ tro tàn chiến tranh”. Sau một đám cháy, tro tàn là những gì còn sót lại. Nhưng trong lịch sử của người Việt tị nạn, từ lớp tro ấy đã mọc lên một cộng đồng mới.
Những người ra đi trên những chiếc ghe mong manh năm xưa nay đã già. Con cái họ đã trưởng thành. Cháu họ nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ và xem Úc, Mĩ, Gia Nã Đại hay Pháp là quê hương của mình. Đó là qui luật tự nhiên của thời gian.
Nhưng trước khi kí ức của thế hệ Thuyền Nhân đi vào lịch sử, chúng ta cần lưu lại câu chuyện của họ.
Lưu lại để thế hệ sau biết rằng cuộc sống họ đang có hôm nay đã bắt đầu từ một hành trình rất dài. Có người cha đã đi qua trại cải tạo. Có người mẹ đã ôm con trên một chiếc ghe giữa Biển Đông. Có gia đình đã mất nhà cửa và quê hương. Có những người đã nằm lại trên biển để những người khác đến được bến bờ.
Lịch sử rồi sẽ được các sử gia tiếp tục tranh luận. Những con số có thể được điều chỉnh khi có thêm tư liệu. Cách diễn giải cũng thay đổi theo thời gian.
Nhưng kí ức của một con người chỉ có một lần để được kể.
Thanh Tâm và những người thực hiện “Từ tro tàn chiến tranh” đã kịp ghi lại một phần kí ức ấy. Mai này, khi những nhân chứng đã trở thành người thiên cổ, tiếng nói của họ vẫn còn đó, để con cháu biết cha ông mình đã từ đâu đến, đã trải qua những gì, và đã trả cái giá nào cho hai chữ tự do.
Giáo sư Tiến Sĩ Nguyễn Tuấn
Sydney Australia
August 29, 2026

Nhận xét

Bài được quan tâm